|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 271/2024/DS-PT Ngày: 11 - 11 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp họ (hụi)” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trần Bình Đảo. |
| Các Thẩm phán: | Ông Trần Bá Kha. |
| Ông Nguyễn Thanh Phong. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Vũ Tường Ninh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Bà Trần Thị Lành - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 190/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp họ (hụi)”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2024/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 268/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Tô Thị H, sinh năm 1968; Có mặt.
Địa chỉ: Ấp A Chợ A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
-
Bị đơn: Bà Đào Thị V, sinh năm 1962 và chị Trần Thị Huỳnh T, sinh năm 1985; Đều có mặt.
Địa chỉ: Ấp A Chợ A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
-
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Tô Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn bà Tô Thị H trình bày:
Bà H và bà V (trong đơn khởi kiện ghi tên G) quen biết với nhau, chứ không quen biết chị T con bà V; biết bà H mở hụi nên bà V đến hỏi chơi hụi cho bà V và chị T. Thấy bà V có nhà cửa, đất đai ổn định và sinh sống tại địa phương nên bà H đồng ý cho bà V tham gia chơi hụi. Bà H mở dây hụi ngày 05/4/2022 âm lịch, loại hụi 5.000.000 đồng/tháng, có 23 phần, bà V có tham gia 04 phần (bà V 01 phần, chị T 03 phần).
Phần thứ nhất bà V hốt ngày 05/8/2022, kêu giá 1.400.000 đồng, hốt được số tiền 82.300.000 đồng; phần thứ hai hốt ngày 05/9/2022, kêu giá 1.400.000 đồng, hốt được 83.700.000 đồng. Sau khi hốt hai phần hụi, mẹ con bà V không đóng hụi chết nên bà H dừng hụi. Như vậy mẹ con bà V còn lại 02 phần hụi sống đóng được 06 lần là 60.000.000 đồng, mẹ con bà V đồng ý trừ số tiền hụi sống vào tiền hụi chết nên còn nợ lại 110.000.000 đồng. Trong quá trình chơi hụi bà V là người trực tiếp đóng hụi và trực tiếp nhận tiền của bà H; sau khi hốt hụi bà V đùn đẩy nợ cho chị T. Tổng cộng số tiền mẹ con bà V, chị T còn nợ là 110.000.000 đồng.
Nguyên đơn bà H khởi kiện yêu cầu mẹ con bà V, chị T phải trả cho bà H số tiền 110.000.000 đồng.
Tại phiên hòa giải ngày 15/12/2023 và cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bà H xác định chỉ yêu cầu bà V trả cho bà H số tiền hụi 110.000.000 đồng, không yêu cầu chị T trả nợ.
* Bị đơn bà Đào Thị V trình bày:
Bà tên Đào Thị V chứ không phải Đào Hồng G như đơn khởi kiện của bà H ghi. Dây hụi bà H khởi kiện bà V có tham gia 01 phần, đóng được 06 lần hụi sống thì bà H dừng hụi. Bà H còn nợ bà V tiền hụi 06 lần đã đóng, còn các phần hụi bà H yêu cầu là của chị T chứ không phải của bà V nên không thống nhất yêu cầu của bà H. Bà V không yêu cầu bà H trả tiền hụi đã đóng, mà thống nhất cho chị T phần này để bà Hà T1 vào nợ hụi của chị T.
* Bị đơn chị Trần Thị Huỳnh T trình bày:
Chị có tham gia 03 phần hụi trong dây hụi này, 02 phần bà H ghi tên “Chân” và 01 phần ghi tên “Tý”. Do hụi không cho một người chơi nhiều phần nên có 01 phần ghi tên T2, nhưng thực tế là của chị T. Chị T đã hốt 02 phần hụi tên C, hốt lần một được 82.300.000 đồng, lần hai được 83.700.000 đồng. Sau khi hốt hụi bà H dừng hụi và có thỏa thuận trừ 06 lần hụi sống của bà V và 06 lần hụi sống của chị T (ghi tên T2) là 60.000.000 đồng. Chị T còn phải đóng hụi chết tới mãn hụi là 110.000.000 đồng, nhưng do hoàn cảnh làm ăn thất bại, chưa có tiền nên chưa đóng hụi được cho bà H. Chị T thống nhất số nợ này và đồng ý trả cho bà H số tiền 110.000.000 đồng. Nhưng tại phiên hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm, bà H đều yêu cầu bà V trả nợ, không yêu cầu gì đối với chị T nên chị T không có ý kiến gì thêm.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2024/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang quyết định:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Tô Thị H đối với bà Đào Thị V về việc yêu cầu trả số tiền hụi 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng).
Đình chỉ yêu cầu của bà Tô Thị H đối với chị Trần Thị Huỳnh Trân .
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và thông báo quyền kháng cáo cho các bên đương sự theo quy định.
* Ngày 10/7/2024, nguyên đơn bà Tô Thị H kháng cáo với nội dung: Yêu cầu buộc bà Đào Thị V cùng chị Trần Thị Huỳnh T có trách nhiệm trả cho bà H số tiền hụi còn nợ là 110.000.000 đồng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Tô Thị H yêu cầu bị đơn chị Trần Thị Huỳnh T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà Tô Thị H số tiền hụi còn nợ là 110.000.000 đồng.
- Bị đơn chị Trần Thị Huỳnh T thống nhất tự nguyện trả cho nguyên đơn bà Tô Thị H số tiền hụi 110.000.000 đồng.
- Bị đơn bà Đào Thị V thống nhất với ý kiến của nguyên đơn bà Tô Thị H và bị đơn chị Trần Thị Huỳnh Trân .
- Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và những người tham gia tố tụng trong vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị án tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận nội dung kháng cáo của của nguyên đơn bà Tô Thị H theo hướng, công nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đương sự tại phiên tòa, sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2024/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến tranh luận của đương sự và phát biểu của vị đại viện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử theo quy định.
Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Tô Thị H yêu cầu bị đơn chị Trần Thị Huỳnh T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà Tô Thị H số tiền hụi còn nợ là 110.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Tô Thị H và bị đơn chị Trần Thị Huỳnh T thống nhất tự nguyện thỏa thuận được với nhau cụ thể: Bị đơn chị Trần Thị Huỳnh T trả cho nguyên đơn bà Tô Thị H số tiền hụi 110.000.000 đồng là hoàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử công nhận.
Từ những căn cứ nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử thống nhất, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Tô Thị H, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2024/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang không có lỗi của cấp sơ thẩm.
Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm:
- Hoàn trả cho nguyên đơn bà Tô Thị H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 2.750.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003399 ngày 27/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Buộc bị đơn chị Trần Thị Huỳnh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền 110.000.000 đồng x 5% = 5.500.000 đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm:
- Hoàn trả cho nguyên đơn bà Tô Thị H số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005059 ngày 10/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Buộc bị đơn chị Trần Thị Huỳnh T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản Điều 300, khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Tô Thị H.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp họ (hụi)” đối với bị đơn chị Trần Thị Huỳnh Trân .
Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa nguyên đơn bà Tô Thị H với bị đơn chị Trần Thị Huỳnh T cụ thể: Bị đơn chị Trần Thị Huỳnh T trả cho nguyên đơn bà Tô Thị H số tiền hụi 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm:
- Hoàn trả cho nguyên đơn bà Tô Thị H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 2.750.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003399 ngày 27/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Buộc bị đơn chị Trần Thị Huỳnh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 5.500.000 đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm:
- Hoàn trả cho nguyên đơn bà Tô Thị H số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005059 ngày 10/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Buộc bị đơn chị Trần Thị Huỳnh T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Bình Đảo |
Bản án số 271/2024/DS-PT ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự về góp họ (hụi)
- Số bản án: 271/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp họ (hụi)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà H Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp họ (hụi) với bà V
