TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 271/2023/HS-PT
Ngày: 11-8-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn
Các Thẩm phán: Bà Lê Hồng Hương;
Bà Đinh Thị Kiều Lương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 149/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Lương Văn Bảo L và đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo Lương Văn Bảo L và bị hại Nguyễn Văn L1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2023/HS-ST ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
- Các bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:
- Họ và tên: Lương Văn Bảo L, sinh năm: 1984, tại: Đồng Nai. Nơi cư trú: tổ B, ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa. Con ông Lương Văn H(đã chết) và bà Lê Thị P sinh năm 1959 (còn sống). Có vợ Nguyễn Thụy Đăng N, sinh năm 1987, có 02 người con: con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án, Tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
- Họ và tên: Lương Văn Bảo C, sinh năm: 1982, tại: Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa. Con ông Lương Văn H (đã chết) và bà Lê Thị P, sinh năm 1959 (còn sống). Có vợ Lê Thị Hoài N1, sinh năm 1988, có 02 người con: con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017. (Có mặt)
Tiền án, Tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Tổ B, Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai(Có mặt)
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn N2 Luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ (Có mặt)
Địa chỉ: Công ty L2; Số C, đường C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Ngoài ra còn có bị hại khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn trong việc kinh doanh, mua bán đá lạnh, bia, nước ngọt trên địa bàn xã L, huyện T giữa Nguyễn Tấn T và Lương Văn Bảo L hai bên đã nhiều lần cự cãi nhưng chưa xảy ra xô xát, chiều ngày 03/11/2019, Nguyễn Tấn T điều khiển xe môtô 60FB -8061 đi qua cửa hàng B1 thấy anh L đang ngồi trong cửa hàng, T đã có lời lẽ chửi bới, thách thức đánh nhau, T cầm móc sắt (loại móc đá) đuổi đánh L thì L bỏ chạy vào trong nhà lấy 01 khúc cây loại cây tầm vông đánh lại T hai bên đánh nhau chưa gây ra thương tích cho nhau. Lúc này Nguyễn Tấn T điện thoại cho Nguyễn Anh T1 sinh năm 1994 (cháu ruột của T nói với T1 về việc đánh nhau với L Nguyễn Anh T1 điều khiển xe môtô 60B7-133.67 cầm theo 02 con dao, loại dao tự chế, đi đến nhà L trên đường đi T1 gặp Nguyễn Văn L1 (Cậu ruột của T anh trai Nguyễn Tấn T T1 nói với L1 biết việc xảy ra đánh nhau giữa T và L L1 nhặt 01 khúc cây gỗ hình chữ nhật, dài khoảng 50cm rồi điều khiển xe môtô 60S4 -0562 cùng đi đến nhà L
Khi đến nơi T1 cầm 02 con dao xông vào đánh L L1 lấy trong nhà 01 cây tuýp sắt đánh trả, trong lúc đánh nhau với L 01 con dao của T1 bị gãy rơi xuống đất, T1 cầm phần cán dao bằng gỗ và con dao còn lại tiếp tục chém về phía người L, lúc đó Nguyễn Tấn T dùng móc sắt đánh vào phần lưng, hông của L L dùng cây tuýp sắt đánh trả trúng vào phần đầu của Nguyễn Tấn T cùng lúc Nguyễn Văn L1 cầm cây gỗ xông vào đánh L do bị nhiều người đánh nên L dùng tuýp sắt đánh trả lại nhóm của T do bị chém nên L bỏ chạy ra ngoài thì có Lương Văn Bảo C (anh trai của L cầm theo 01 con dao mã tấu xông ra đánh nhóm của T Nguyễn Văn L1 thấy C cầm dao xông ra nên dùng cây gỗ đánh chặn C thì bị C dùng dao chém về phía L1 thấy vậy T1 dùng dao chém vào phần tay trái gây thương tích cho C tiếp tục dùng dao chém vào nón bảo hiểm do T1 đang đội trên đầu, rồi dùng chân đạp mạnh vào vùng bụng làm cho T1 té ngã, L1 dùng cây đánh về phía L thì bị L đánh trả, L dùng cây đánh vào người Nguyễn Văn L1 gây thương tích ở tay trái, bụng và vùng vai phải, trong lúc hai bên tiếp tục đánh nhau thì L và C làm rơi hung khí nên bỏ chạy vào trong nhà dùng chai bia ném về phía T L1 và T1 nhưng không trúng sự việc được người đi đường can ngăn nên chấm dứt.
Căn cứ Bản giám định Pháp y về thương tích số 0129/TgT/2020 ngày 19/02/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận thương tích đối với Nguyễn Văn L1
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- Tổn thương gãy mỏm trâm trụ trái không ảnh hưởng vận động cổ tay trái, tỷ lệ: 08%
- Sẹo vết thương vai phải kích thước 4,5 x 0,3 cm, tỷ lệ: 02%
- Sẹo liên đốt I-II ngón 2 bàn tay trái kích thước 03 x 03cm, tỷ lệ 02%
- Sẹo vết thương mu bàn tay trái kích thước 03 x 02cm, tỷ lệ 01%
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Văn L1 là 13% (Mười ba phần trăm).
- Vật gây thương tích: Thương tích vai phải và bàn tay trái: Vật sắt; chấn thương đầu và cổ tay trái: Vật tày.
Căn cứ Bản giám định Pháp y về thương tích số 0080/TgT/2020 ngày 04/02/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận thương tích đối với Nguyễn Tấn T
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo vùng chẩm kích thước 06 x 0,2cm, tỷ lệ: 02%
- Sẹo trán trái kích thước 2,5 x 0,2 cm, tỷ lệ: 03%
- Sẹo vai trái kích thước 07 x 0,2 cm, tỷ lệ: 02%
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Tấn T là 07% (Bảy phần trăm).
- Vật gây thương tích: thương tích đầu, vai trái: Vật sắc. Sây sát vai trái: Vật tày
Căn cứ Bản giám định Pháp y về thương tích số 0080/TgT/2020 ngày 04/02/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận thương tích đối với Nguyễn Anh T1
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo gối trái kích thước 02 x 1,5 cm, tỷ lệ: 02%
- Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Anh T1 là 02% (Hai phần trăm).
- Vật gây thương tích: Vật tày.
Đới với Lương Văn Bảo L và Lương Văn Bảo C cũng bị Nguyễn Văn L1 Nguyễn Tấn T và Nguyễn Anh T1 gây thương tích như sau:
Căn cứ Bản giám định Pháp y về thương tích số 0131/TgT/2020 ngày 20/02/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận thương tích đối với Lương Văn Bảo L tại thời điểm giám định là 10% (Mười phần trăm).
Căn cứ Bản giám định Pháp y về thương tích số 0130/TgT/2020 ngày 20/02/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận thương tích đối với Lương Văn Bảo C tại thời điểm giám định là 27% (Hai mươi bảy phần trăm).
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất đã:
- Áp dụng điểm a khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lương Văn Bảo L 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lương Văn Bảo C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về về trách nhiệm bồi thường, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 20/02/2023, bị cáo Lương Văn Bảo L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Ngày 21/02/2023, bị hại Nguyễn Văn L1 kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm lại vụ án.
· Đại diện VKSND tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa nêu quan điểm:
Xét kháng cáo của bị cáo Lương Văn Bảo L Hành vi của bị cáo L đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xét xử bị cáo với mức án 02 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài những tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Xét kháng cáo của bị hại Nguyễn Văn L1 Bị hại kháng cáo cho rằng mức án Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo L là chưa đủ nghiêm nhưng tại phiên tòa bị hại không tiếp tục kháng cáo nữa nên không đặt ra xem xét. Việc bị hại kháng cáo cho rằng bị cáo C không đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 02/2018/HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Ngoài ra, bị hại kháng cáo cho rằng trong vụ án còn có 01 thanh niên là người nhà bị cáo L tham gia đánh bị hại nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị hại.
- Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại:
Cấp sơ thẩm cho rằng trong vụ án này có phần lỗi của người bị hại là không đúng, ngoài ra trong quá trình điều tra trong vụ án chưa khách quan. Về hình phạt nếu so giữa T và T1 với L thì hình phạt của L là nhẹ vì L là người khơi mào và gây thương tích cho 03 người; đối với bị cáo C mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng bị cáo hành động một cách quyết liệt, dùng dao bổ từ trên đầu là rất nguy hiểm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị hại tăng hình phạt đối với bị cáo L và C
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo L và bị hại L1 làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Vào chiều ngày 03/11/2019 tại ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai do có mâu thuẫn trước đó và Nguyễn Tấn T đi đến trước của nhà của Lương Văn Bảo L thách thức và dùng móc sắt đuổi đánh Lương Văn Bảo L nên Lương Văn Bảo L đã sử dụng 01 cây tuýp sắt đánh nhau với Nguyễn Tấn T Sau đó T gọi điện thoại cho Nguyễn Anh T1 dùng 01 mã tấu tự chế và 01 cây rựa, Nguyễn Văn L1 dùng 01 khúc cây cùng đanh L Khi thấy em trai là Lương Văn Bảo L bị đánh nên Lương Văn Bảo C cầm hung khí chạy ra đánh lại nhóm của T Quá trình đánh nhau hai bên đều gây thương tích cho nhau, cụ thể:
Lương Văn Bản L Lương Văn Bảo C sử dụng dao, tuýp sắt gây thương tích cho Nguyễn Văn L1 với tỷ lệ thương tích là 13%, gây thương tích cho Nguyễn Tấn T với tỷ lệ thương tích là 07% và gây thương tích cho Nguyễn Anh T1 với tỷ lệ thương tích là 02%.
Nguyễn Tấn T Nguyễn anh T2 và Nguyễn Văn L1 cũng gây thương tích cho Lương Văn BC1 với tỷ lệ thương tích là 27%, Lương Văn Bảo L với tỷ lệ thương tích là 10% (Hành vi của T T2 và L1 đã bị xét xử bằng vụ án khác).
Như vậy với hành vi phạm tội nêu trên, các bị cáo Lương Văn Bảo L Lương Văn Bảo C đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Lương Văn Bảo L:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền tự do thân thể được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Trong vụ án này xuất phát từ việc mâu thuẫn trong sinh hoạt mà bị cáo L đã chủ động dùng tuýp sắt, mã tấu là hung khí nguy hiểm để đánh lại bị hại T dẫn đến hai bên xô xát. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo đã khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải; phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động do hành vi trái pháp luật của bị hại; có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị hại có một phần lỗi để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm e, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo mức án 02 (năm) tù là phù hợp, đúng quy định, không nặng như đơn kháng cáo bị cáo nêu.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, tình tiết nào mới để xem xét do đó kháng cáo của bị cáo nên không có căn cứ chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của bị hại anh Nguyễn Văn L1:
Về mức hình phạt của bị cáo Lương Văn Bảo L Bị hại kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo L 02 (hai) năm tù là chưa nghiêm. Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy vụ án xuất phát từ mâu thuẫn trong việc kinh doanh giữa Nguyễn Tấn T và Lương Văn Bảo L hai bên đã nhiều lần cự cãi nhưng chưa xảy ra xô xát; ngày 03/11/2019 T điều khiển xe môtô đi qua cửa hàng B1 có lời lẽ chửi bới, thách thức đánh nhau, cầm móc sắt đuổi đánh L trước và điện thoại cho Nguyễn Anh T1 nói với T1 về việc đánh nhau với L Sau đó T1 điều khiển xe mô tô cầm theo 02 con dao, loại dao tự chế, đi đến nhà L trên đường Đ gặp Nguyễn Văn L1, nói với L1 biết việc xảy ra đánh nhau giữa T và L L1 nhặt 01 khúc cây và cùng đi đến nhà L Sau đó, 02 bên xảy ra xô xát, bản thân bị cáo L cũng bị thương tích 10% (Mười phần trăm). Ngoài ra, bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm e, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ tình tiết vụ án và tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo Lương Văn Bảo L 02 (hai) năm tù là phù hợp, đủ nghiêm không dưới khung hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.
Về việc bị hại kháng cáo cho rằng C không đủ điều kiện hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo C việc thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo là thụ động, mục đích là để giải cứu em trai là bị cáo L đang bị vây đánh, bản thân bị cáo cũng bị thương tích 27%. Mặt khác, L và C có mối quan hệ ruột thịt, hai bị cáo có một người em trai tên là Lương Bảo S bị bệnh tâm thần cần có sự chăm sóc sức khỏe của gia đình trong khi đó cha bị cáo đã chết từ lâu, mẹ là người già không đủ sức khỏe để chăm sóc cho S Bị cáo C thực hiện hành vi với vai trò thứ yếu, ngoài lần phạm tội lần này chưa có hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo đã khai báo thành khẩn, thể hiện sự ăn năn hối cải; phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động do hành vi trái pháp luật của bị hại; có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị hại có một phần lỗi, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP. Ngoài ra, bị hại Nguyễn Văn L1 kháng cáo cho rằng trong vụ án còn có 01 thanh niên người nhà của L tham gia đánh nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu kháng cáo trên.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị hại kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới, đặc biệt để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có cơ sở chấp nhận.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của bị hại không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[6] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Văn Bảo L và bị hại Nguyễn Văn L1, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 47/2023/HS-ST ngày 16/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- [2] Áp dụng điểm a khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Lương Văn Bảo L 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.
Áp dụng điểm a khoản 1; điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lương Văn Bảo C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- [3] Về án phí: Bị cáo Lương Văn Bảo L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- [4] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- [5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thành Sơn |
Bản án số 271/2023/HS-PT ngày 11/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 271/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào chiều ngày 03/11/2019 tại ấp 2, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai do có mâu thuẫn trước đó và Nguyễn Tấn Thành đi đến trước của nhà của Lương Văn Bảo Lâm thách thức và dùng móc sắt đuổi đánh Lương Văn Bảo Lâm nên Lương Văn Bảo Lâm đã sử dụng 01 cây tuýp sắt đánh nhau với Nguyễn Tấn Thành.
