Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2023/DS-PT

Ngày: 06-12-2023

V/v “Tranh chấp quyền sử

dụng đất; Yêu cầu tuyên bố

Hợp đồng thuê đất vô hiệu”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Tuấn

Các Thẩm phán:

  1. Ông Khưu Để Dành;
  2. Ông Lê Thanh Hoàng.

- Thư ký phiên Tòa: bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tỉnh An Giang tham gia phiên tòa phúc thẩm: ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 260/2023/TLPT-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tuyên bố hợp đồng thuê đất vô hiệu”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 74/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 280/2023/QĐ-PT ngày 18 tháng 10 năm 2023; quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 314/2023/QĐ-PT ngày 16/11/2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: ông Khưu Tấn Đ, sinh năm 1965; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
  2. Người đại diện theo ủy quyền cho ông Khưu Tấn Đ là: bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1965; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang (theo Văn bản ủy quyền ngày 06/11/2023) (có mặt).

  3. Bị đơn: ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1964; hộ khẩu thường trú: khóm B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ G, khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
  4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Nguyễn Thị N (vợ ông H), sinh năm 1968; hộ khẩu thường trú: khóm B, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ G, khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
    • - Bà Nguyễn Thị Bé V, sinh năm 1987; chỗ ở hiện nay: khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
    • - Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1989; chỗ ở hiện nay: khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
    • - Bà Nguyễn Thị Bé T1, sinh năm 1993; chỗ ở hiện nay: khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
    • - Cháu Lê Hữu D, sinh năm 2005; chỗ ở hiện nay: khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
    • - Ông Đỗ Văn N1;
    • - Bà Trần Mỹ L;
    • Chỗ ở hiện nay: khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (cùng vắng mặt).

Người kháng cáo: Ngày 31/8/2023 nguyên đơn ông Khưu Tấn Đ kháng cáo yêu cầu xem xét lại bản án sơ thẩm, những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Khưu Tấn Đ trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp trước đây là của cha mẹ ông là ông Khưu Tấn H1 và bà Nguyễn Thị M cho ông Đ vào năm 1995 diện tích ngang 05m dài 10m tọa lạc dưới chân cầu T, đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉ có Trích lục địa bộ cũ (bản photo).

Năm 2004 ông Đ cho Nguyễn Thanh H thuê diện tích đất trên để làm mặt bằng buôn bán sinh sống, thời hạn cho thuê 01 năm từ ngày 13/10/2004 đến ngày 13/10/2005 với giá 50.000đ/tháng; khi hết hạn hợp đồng thì ông H tiếp tục thuê đất nhưng không làm hợp đồng lại chỉ thỏa thuận miệng như hợp đồng đã lập trước đây, hàng tháng ông H đều trả tiền thuê đất nhưng từ tháng 07/2019 đến nay thì không trả tiền thuê đất, khi cơ quan chuyên môn đo đạc diện tích đất tranh chấp do ông Đ tự chỉ dẫn kết quả đo đạc là 178,3m² (trong đó góc nhà ông H 81,7 và 7,4 m² thuộc thửa đất 44, tờ bản đồ số 39 Giấy chứng nhận số CH06329 ngày 12/07/2019 do UBND huyện T cấp cho ông Đỗ Văn N1 và bà Trần Mỹ L).với phần đất mà ông đã chỉ qua phần đất của bà L, ông N1, ông không yêu cầu tranh chấp trong vụ án này, ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng thuê đất ngày 13/10/2005 thỏa thuận miệng vô hiệu, buộc ông Nguyễn Thanh H cùng gia đình di dời nhà hoàn trả cho ông diện tích thuê mặt bằng ngang 05m dài 10m tổng cộng 50m² tại thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.

Theo Bản tự khai, lời khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án bị đơn ông Nguyễn Thanh H trình bày:

Ông Nguyễn Thanh H xác định nguồn gốc đất tranh chấp là do ông thấy đất trống, tự bao chiếm đến cất nhà ở chứ không biết đất của ai, ông sử dụng cất nhà ở trên đất này từ năm 1990 cho đến nay (đã 03 là sửa nhà) không ai tranh chấp, ông chưa kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, quá trình sử dụng ông đã xây dựng căn nhà cấp 4 trên đất và sinh sống trên đất cùng với vợ ông và 03 người con của ông, ông làm nghề sạc bình từ khi về cất nhà ở trên đất và cải tạo san lắp mặt bằng, hàng năm ông đều đóng các khoản phí cho Nhà nước theo quy định.

Ông xác định ông không có thuê đất nào của ông Đ và không đóng tiền thuê đất cho ông Đ như ông Đ khai, nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Đ, nếu Nhà nước lấy đất này lại sử dụng thì hỗ trợ tiền cho ông di dời chứ ông không trả cho ông Đ.

Theo Bản tự khai, các lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà thống nhất ý kiến của ông H, không đồng ý trả đất vì ông H và bà đã ở trên đất này từ năm 1990 cho đến nay, chưa kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, quá trình sử dụng ông, bà đã xây dựng căn nhà cấp 4 trên đất và sinh sống trên đất gồm có vợ chồng ông, bà và 03 người con, làm nghề sạc bình từ khi về cất nhà ở trên đất và cải tạo san lắp mặt bằng, hàng năm ông, bà đều đóng các khoản thuế cho Nhà nước theo quy định, bà xác định ông H và bà không có thuê đất nào của ông Đ và không đóng tiền thuê đất cho ông Đ, do đó bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn N1, bà Trần Kim L1, chị Nguyễn Thị Bé V, chị Nguyễn Thị Bích T, chị Nguyễn Thị Bé T1, cháu Lê Hữu D (do chị Bé T1 đại diện).

Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và đã được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để làm việc nhưng các đương sự trên vẫn vắng mặt không lý do chính đáng nên không ghi được ý kiến của các đương sự trên.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 74/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; Căn cứ các Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, Điều 123, Điều 129, khoản 2 Điều 166, Điều 502 Bộ luật Dân sự, Điều 100, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Xử:

  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Khưu Tấn Đ về việc yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng cho thuê đất ngày 13/10/2005 giữa ông Khưu Tấn Đ và ông Nguyễn Thanh H, buộc ông Nguyễn Thanh H cùng gia đình tháo dỡ di dời nhà trả cho lại diện tích ngang 5m dài 10m tổng cộng 50m² cho ông Khưu Tấn Đ.
  • Chi phí tố tụng: Ông Khưu Tấn Đ phải chịu chi phí tố tụng tổng cộng là 8.833.000đ (ông Khưu Tấn Đ đã thực hiện xong).
  • Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định pháp luật.

Ngày 31/8/2023 nguyên đơn ông Khưu Tấn Đ kháng cáo yêu cầu xem xét lại bản án sơ thẩm.

Kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm.

Ông Đ trực tiếp tham gia tố tụng cùng với bà S (do ông ủy quyền) cùng xác định giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đó là; kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm, các đương sự xác định không cung cấp thêm chứng cứ mới, yêu cầu Tòa phúc thẩm xét xử vụ án theo pháp luật.

Ông H, bà N đồng ý nội dung án sơ thẩm, không đồng ý trả đất cho ông Đ vì không có thuê đất của ông Đ (đất này là của Nhà nước) không phải đất của ông Đ, đề nghị xét xử vụ án theo pháp luật.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, người tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định do Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định.
  • Về nội dung: căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu quy định pháp luật, nhận thấy Tòa sơ thẩm đã xem xét toàn diện các chứng cứ trong vụ án nên tuyên xử; không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng thuê đất ngày 13/10/2005 vô hiệu và yêu ông H cùng gia đình di dời nhà hoàn trả lại diện tích thuê mặt bằng là có căn cứ.

Ông Đ kháng cáo, bà S đại diện theo ủy quyền của ông Đ nhưng không cấp cấp được chứng cứ mới nên không có căn cứ xem xét yêu cầu kháng cáo của ông Đ. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự phúc xử; không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 74/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, buộc ông Đ chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; Ý kiến trình bày của các đương sự, căn cứ kết quả thẩm tra tại phiên tòa; Kết quả tranh tụng tại phiên tòa; phát biểu đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tòa sơ thẩm tuyên án ngày 18/8/2023, ngày 31/8/2023 ông Khưu Tấn Đ kháng cáo yêu cầu xem xét lại Bản án sơ thẩm và nộp án phí phúc thẩm đúng quy định là kháng cáo hợp lệ, nên nội dung kháng cáo của ông Đ được xét xử theo trình tự phúc thẩm;

[1.2] Những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét;

[1.3] Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn N1, bà Trần Mỹ L, bà Nguyễn Thị Bé V, bà Nguyễn Thị Bích T, bà Nguyễn Thị Bé T1, cháu Lê Hữu D (do bà Bé T1 đại diện) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, việc xét xử vắng mặt các đương nêu trên không ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của ông Đ thì thấy;

[2.1] Ông Đ khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng cho thuê đất ngày 13/10/2005 giữa ông với ông H vô hiệu, yêu cầu ông H cùng gia đình tháo dỡ di dời nhà trả cho ông Đ diện tích ngang 5m dài 10m tổng cộng 50m²; ông H không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Đ vì; ông H, bà N xác định đất tranh chấp gia đình ông, bà bao chiếm cất nhà ở từ năm 1990 không phải đất của ông Đ, năm 1990 thấy đất trống nên đến cất nhà ở chứ không biết đất của ai, ông sử dụng đất này từ năm 1990 cho đến 2019 ông Đ tranh chấp, ông chưa kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, quá trình sử dụng đất ông đã cải tạo san lấp mặt bằng, nhiều lần sửa chữa lại nhà để ở và không có ai tranh chấp, hàng năm ông đều đóng các khoản phí cho Nhà nước theo quy định, ông không có thuê đất nào của ông Đ như ông Đ khai.

Ông Đ khai, nguồn gốc đất 50m² tranh chấp là của cha ông tên Khưu T và mẹ ông tên Nguyễn Thị M tặng cho ông vào năm 1995, nhưng ông Đ không có chứng cứ chứng minh đất tranh chấp là tài sản hợp pháp của ông H1, bà M chết để lại, ông Đ không có chứng cứ chứng minh ông được tặng cho hợp pháp diện tích 50m² do vợ chồng ông H cất nhà ở từ năm 1990 đến nay, ông Đ cũng không có chứng cứ chứng minh ông là người quản lý, sử dụng diện tích 50m² đất này từ năm 1975 đến năm 1989, nên việc ông Đ khởi kiện yêu cầu gia đình ông H dỡ nhà trả đất, yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng thuê đất ngày 13/10/2005 là không có căn cứ bởi lẽ;

Chứng cứ tại vụ án thể hiện, đất tranh chấp là đất trống, năm 1990 gia đình ông H đến bao chiếm để cất nhà ở, quá trình sử dụng ông H nhiều lần cải tạo, sửa nhà nhưng ông Đ không tranh chấp, điều này được chứng minh tại biên bản xác minh ngày 25/10/2019 thể hiện “phần đất này trước đây là của ông Khưu Văn A (ông nội của ông Khưu Tấn H1). Trước năm 1975 ông Khưu Văn A có cho chế độ cũ sử dụng phần đất phía trên con đường hiện tại để làm Bệnh viện quân y, còn phần đất phía dưới con đường hiện tại là đất trống trũng thấp không ai sử dụng. Trước năm 1983 đất của Trung tâm y tế, ông Võ Trường K có thuê phần đất trên của Trung tâm y tế để bồi đắp phần đất trũng phía trước để làm bãi đá”, thực tế không có tài liệu gì xác định diện tích đất hiện gia đình ông H đang sử dụng cất nhà ở là của ông H1, bà M (cha, mẹ ông Đ đã chết) để lại cho ông Đ.

[2.2] Theo đó, ông Đ chỉ cung cấp 01 giấy photo của chế độ cũ (không xác định vị trí đất ở đâu) để chứng minh yêu cầu khởi kiện của ông, chứng cứ photo này không còn giá trị chứng minh, chỉ mang tính chất tham khảo, hơn nữa diện tích 50m² ông Đ với ông H tranh chấp, khi tiến hành đo đạc đất tại thực địa do ông Đ chỉ dẫn cho rằng đất của ông lại là diện tích 178,3m² trong đó 7,4m² là diện tích thuộc diện tích 170,9m² đã cấp quyền sử dụng đất cho bà Trần Mỹ L và ông Đỗ Văn N1, không có căn cứ xác định đất ông H cất nhà ở; phần đất 7,4m² năm trong quyền sử dụng đất của bà Trần Mỹ L và ông Đỗ Văn N1 đứng tên quyền sử dụng đất lại nằm trong 01 giấy đất photo của chế độ cũ do ông Đ cung cấp cho rằng đất thuộc đất của cụ H1 và cụ M chết để lại.

Theo đó, tại Công văn 182/UBND-TH ngày 04/3/2022 của Ủy ban nhân dân huyện T xác định diện tích 170,9m² đã cấp quyền sử dụng đất cho bà Trần Mỹ L và ông Đỗ Văn N1, trong có 76,2m² được quy hoạch là đất giao thông do Nhà nước quản lý nên không xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân nào, riêng diện tích còn lại 94,7m² tại các điểm 4, 5, 6, 18, 19, 20, 7, 8, 10 được quy hoạch là đất ở, phía ông Đ lại không xác định được diện tích 50m² tranh chấp với ông H nằm ở vị trí nào trong diện tích 178,3m² theo kết quả đo vẽ của Văn phòng đăng ký đất đai – Chi nhánh T2 lập ngày 19/6/2021, Tòa sơ thẩm xem xét toàn diện chứng cứ tại hồ sơ vụ án nên tuyên xử; Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ yêu cầu ông H cùng gia đình tháo dỡ di dời nhà trả cho lại diện tích ngang 5m dài 10m tổng cộng 50m² cho ông Đ là có căn cứ.

[2.3] Xét, việc ông Đ yêu cầu tuyên hợp đồng cho thuê đất giữa ông Đ với ông H lập ngày 13/10/2005 vô hiệu thì thấy;

Nội dung Giấy tay hợp đồng cho thuê đất ngày 13/10/2004 thể hiện; ông Đ cho ông H thuê đất diện tích 50m² thời gian thuê 12 tháng giá 50.000đ/tháng không rõ và không xác định được vị trí đất cho thuê ở chỗ nào, tuy có chữ ký của ông H, nhưng ông H xác định ông không thuê đất gì của ông Đ, ông không trả tiền thuê đất gì cho ông Đ, chữ ký của tên H trong Giấy thuê đất ngày 13/10/2004 không phải chữ ký của ông ký;

Ông Đ lại cho rằng chữ ký trong Giấy thuê đất 13/10/2004 do ông H ký, ông yêu cầu giám định chữ ký ông H, nhưng ông Đ không cung cấp đầy đủ tài liệu để thực hiện cho việc giám định. Tại Kết luận giám định số 60/KL-KTHS (TL-GT) ngày 06/7/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh A kết luận “Không đủ cơ sở kết luận chữ ký mang tên Nguyễn Thanh H trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký mang tên Nguyễn Thanh H trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 đến M9 có phải do cùng một người ký ra hay không”, từ kết luận này ông Đ không khiếu nại, không yêu cầu thực hiện việc giám định lại đối với chữ ký ông H, nên không có căn cứ xác định ông H ký tên tại hợp đồng thuê đất ngày 13/10/2004 như ông Đ trình bày. Do đó, Tòa sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ, yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng cho thuê đất giữa ông Khưu Tấn Đ và ông Nguyễn Thanh H lập ngày 13/10/2005 vô hiệu là có căn cứ.

Ông Đ kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đ, cần giữ nguyên án sơ thẩm như Kiểm sát viên đề nghị là đúng là pháp luật, kháng cáo của ông Đ không được chấp nhận nên ông Đ phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Xử:

  • Không chấp nhận kháng cáo của ông Khưu Tấn Đ.
  • Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 74/2023/DS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Căn cứ các Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, Điều 123, Điều 129, khoản 2 Điều 166, Điều 502 Bộ luật Dân sự, Điều 100, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.

Xử:

  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Khưu Tấn Đ về việc yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng cho thuê đất ngày 13/10/2005 giữa ông Khưu Tấn Đ và ông Nguyễn Thanh H; buộc ông Nguyễn Thanh H cùng gia đình tháo dỡ di dời nhà trả cho lại diện tích ngang 5m dài 10m tổng cộng 50m² cho ông Khưu Tấn Đ.
  • Chi phí tố tụng: ông Khưu Tấn Đ phải chịu chi phí tố tụng tổng cộng là 8.833.000đ (ông Khưu Tấn Đ đã thực hiện xong).
  • Án phí dân sự sơ thẩm: ông Khưu Tấn Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004057 ngày 09/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.
  • Án phí dân sự phúc thẩm: ông Khưu Tấn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng do ông Đ đã nộp theo biên lai thu số 0012032 ngày 07/09/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn (ông Đ không phải nộp án phí phúc thẩm).

Các phần nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Tp HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện Thoại Sơn
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV&THA tỉnh AG;
  • - VP tòa án tỉnh AG;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2023/DS-PT ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tuyên bố hợp đồng thuê đất vô hiệu

  • Số bản án: 271/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng thuê đất vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ: Khưu Tấn Đ BĐ: Nguyễn Thanh Hoàng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger