Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 271/2023/HS-ST

Ngày: 06-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quỹ

Bà Trịnh Thị Kim Cúc

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 248/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Tuấn N, sinh năm 1984 tại: Thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: số C đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hoài T và bà Đặng Thị Bích H; chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 28-10-2013 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xử phạt 8 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không; nhân thân: ngày 30-9-2008 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 17-8-2010 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xử phạt 3 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đã được xóa án tích; bị cáo bị tạm giữ từ

ngày 01-8-2023, chuyển tạm giam từ ngày 09-8-2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

Ông Đặng Văn C.

Ông Dương Văn T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 31-7-2023, tổ công tác Công an phường B, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà A đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện thấy Phạm Tuấn N đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B3-011.40 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Phạm Tuấn N đã tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng giao nộp cho tổ công tác. Phạm Tuấn N khai là 01 gói Heroine vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, mời người làm chứng và đưa Phạm Tuấn N về trụ sở Công an phường Bà T2 thành phố Nam Định lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của Phạm Tuấn N 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18B3-011.40 đã cũ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đỏ đã cũ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra quyết định trưng cầu giám định vật chứng thu giữ của Phạm Tuấn N. Tại Bản kết luận giám định số 1213/KL-KTHS ngày 04-8-2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng, trong 01 gói giấy bạc màu trắng thu giữ của Phạm Tuấn N, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine, khối lượng mẫu: 0,130 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Tuấn N khai nhận như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31-7-2023, Phạm Tuấn N điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B3-011.40 đi một mình từ nhà đến ngõ A, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, Phạm Tuấn N gặp một người phụ nữ không rõ lai lịch, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Phạm Tuấn N điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Khi Phạm Tuấn N đi ra đến khu vực trước cửa số nhà A đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản cáo trạng số 269/CT-VKS-TPNĐ ngày 11-10-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo Phạm Tuấn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Tuấn N đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu và không khai báo thêm tình tiết gì mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Phạm Tuấn N tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn N từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo Phạm Tuấn N. Trả lại cho bị cáo Phạm Tuấn N 01 chiếc điện thoại di động S1 màu đỏ đã cũ, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Buộc bị cáo Phạm Tuấn N nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Phạm Tuấn N nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Tuấn N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định

của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Tuấn N trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ vật chứng; Bản kết luận giám định số 1213/KL-KTHS ngày 04-8-2023 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 19 giờ ngày 31-7-2023, tại khu vực trước cửa số nhà A đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định, bị cáo Phạm Tuấn N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,130 gam Heroine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Phạm Tuấn N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,130 gam. Vì vậy bị cáo Phạm Tuấn N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo Phạm Tuấn N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bố đẻ của bị cáo là ông Phạm Hoài T được tặng nhiều Huân chương kháng chiến nên bị cáo sẽ được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án bị kết án chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Tuấn N là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N; Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất,

mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Phạm Tuấn N tàng trữ ma túy, mục đích để sử dụng, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Số ma túy thu giữ của bị cáo Phạm Tuấn N là vật cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đỏ đã cũ là tài sản hợp pháp của bị cáo Phạm Tuấn N, không liên quan đến hành vi phạm tội nên sẽ trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18B3-011.40 là tài sản hợp pháp của ông Phạm Hoài T, sinh năm 1944, nơi cư trú: số C T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định, là bố đẻ của bị cáo N. Ông Phạm Hoài T không biết bị cáo Phạm Tuấn N mượn chiếc xe máy để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc xe máy cho ông Phạm Hoài T là đúng quy định của pháp luật.

[7] Các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật

[8] Về án phí:

Bị cáo Phạm Tuấn N bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Tuấn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn N 01 năm 06 tháng tù (một năm sáu tháng tù).

Thời hạn tù tính từ ngày 01-8-2023.

2. Xử lý vật chứng:

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy gói ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 1213/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh N.

Trả lại cho bị cáo Phạm Tuấn N 01 (một) chiếc điện thoại di động màu đỏ, mặt sau có chữ S, đã cũ, không kiểm tra chất lượng máy, nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-10-2023).

3. Án phí:

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Phạm Tuấn N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Phạm Tuấn N có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Phạm Tuấn N có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2023/HS-ST ngày 06/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 271/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger