Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 271/2024/HNGĐ-ST

Ngày 05 - 8 - 2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai Khanh và ông Trần Xuân Thành
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 201/2024/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2024/QĐST ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Cao Thị N, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện D, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

Bị đơn: Anh Võ Sỹ H, sinh năm 1983; nơi đăng ký hộ khẩu trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã M, huyện D, tỉnh Nghệ An; hiện sinh sống tại R; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai chị Cao Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Võ Sỹ H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 04/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Năm 2020, anh H đi xuất khẩu lao động tại R, từ đó hai vợ chồng cắt đứt mọi liên lạc, anh H không quan tâm đến vợ con kể cả vật chất lẫn tinh thần. Chị N thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn anh Võ Sỹ H.

Về con chung: Chị N và anh Võ Sỹ H có hai con chung Võ Đức T, sinh ngày 21/10/2012 và Võ Đức T1, sinh ngày 23/5/2015. Ly hôn chị N có nguyện vọng được chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Võ Sỹ H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía anh Võ Sỹ H: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh Võ Sỹ H có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án cho anh Võ Sỹ H thông qua bà Nguyễn Thị N1 là mẹ đẻ của anh Võ Sỹ H; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật, nhưng hiện anh Võ Sỹ H vẫn vắng mặt không có lý do. Theo trình bày của bà N1 thì anh H hiện đang ở R, vẫn liên lạc về với bà qua điện thoại, nhưng không nói địa chỉ hiện tại của anh H ở đâu. Bà đã thông báo với anh H về việc chị N yêu cầu ly hôn, anh H cũng đồng ý. Về con chung, hiện anh H đang ở nước ngoài nên giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi con và anh H sẽ có trách nhiệm nuôi con chung với chị N.

Theo kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 10340/QLXNC-P3 ngày 17/5/2024 của Cục Q – Bộ C: Anh Võ Sỹ H có thông tin xuất cảnh ngày 29/5/2021, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Các con chung Võ Đức T1 và Võ Đức T có nguyện vọng tiếp tục được ở với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Cao Thị N, cho chị N được ly hôn anh Võ Sỹ H; giao hai con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi); dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con chung, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng:

  • [1.1] Thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Võ Sỹ H có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã M, huyện D, tỉnh Nghệ An; hiện đang làm việc và sinh sống tại Rumani nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • [1.2] Thủ tục hòa giải: Bị đơn anh Võ Sỹ H hiện vắng mặt tại nơi cư trú, đang sinh sống và làm việc ở R. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được.
  • [1.3] Sự vắng mặt của đương sự: Chị Cao Thị N đã nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, viết bản tự khai và cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Toà án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H, nhưng đến nay vẫn không nhận được văn bản trình bày ý kiến cũng như sự có mặt của anh H tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

[2] Nội dung:

  • [2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị N và chị Võ Sỹ H kết hôn vào ngày 04/5/2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa chị Cao Thị N và chị Võ Sỹ H là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Năm 2020, anh H đi xuất khẩu lao động tại R, từ đó hai vợ chồng cắt đứt mọi liên lạc. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Cao Thị N và anh Võ Sỹ H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Cao Thị N. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Cao Thị N được ly hôn với anh Võ Sỹ H.
  • [2.2] Con chung: Chị Cao Thị N và anh Võ Sỹ H có hai con chung Võ Đức T, sinh ngày 21/10/2012 và Võ Đức T1, sinh ngày 23/5/2015. Ly hôn chị N có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, hiện nay, anh H đang làm ăn sinh sống ở R, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cần giao con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N là người trực tiếp nuôi con chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, anh H chưa có ý kiến gì. Dành quyền yêu cầu cấp nuôi con chưa thành niên cho các bên khi có yêu cầu. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  • [2.3] Tài sản chung, nợ chung: Chị Cao Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Võ Sỹ H cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án không xem xét.
  • [3] Án phí: Chị Cao Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273, các Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Cao Thị N.

  1. Quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị N được ly hôn anh Võ Sỹ H.
  2. Con chung:
    • 2.1. Giao hai con chung Võ Đức T, sinh ngày 21/10/2012 và Võ Đức T1, sinh ngày 23/5/2015 cho chị Cao Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Võ Sỹ H có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
    • 2.2. Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Cao Thị N chưa yêu cầu. Trong trường hợp vì quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
  3. Án phí: Chị Cao Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0012834 ngày 9/5/2024.
  4. Quyền kháng cáo:
    • 4.1. Anh Võ Sỹ H đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
    • 4.2. Chị Cao Thị N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình.

  • Số bản án: 271/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình N H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger