Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2024/DS-ST

Ngày: 05-6-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Huệ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
  2. Bà Nguyễn Thị Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 131/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST- DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 135/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N1; địa chỉ: Số B đường C, Phường D, Quận C, Tp .

Ông Nguyễn An N, ông Nguyễn Ái Đ, ông Nguyễn Trường T; địa chỉ liên lạc: Lầu F Số A đường A, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Giấy ủy quyền số: 07/2024/UQ-ACM ngày 11/01/2024). (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Triệu Thị L, sinh năm 1978; địa chỉ: Số F đường Q, Phường H, quận G, Tp .. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 03/11/2014, Ngân hàng TMCP N1 và bà Triệu Thị L đã ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng và Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP N1 – các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng tín dụng), cụ thể:

Ngân hàng TMCP N1 đã phát hành cho bà Triệu Thị Lâm sản p thẻ MC EMV Standard Credit Main Card với số tài khoản là: 691101170150002.

  • + Số tài khoản: 691101170150002;
  • + Sản phẩm thẻ: MC EMV Gold Credit Main Card;
  • + Hạn mức thẻ: 60.000.000 đồng;
  • + Ngày phát hành: 11/11/2014;
  • + Ngày kích hoạt: 13/11/2014;
  • + Lãi suất trong hạn: 21%/năm;
  • + Lãi suất quá hạn: 31.5 %%/năm.

Từ ngày 24/11/2014 đến ngày 05/6/2024, bà Triệu Thị L thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 112.996.876 đồng, và bà Triệu Thị L thực hiện các giao dịch thanh toán cho N2 với tổng số tiền là 91.855.009 đồng. Tại thời điểm 24/12/2014 đến ngày 24/10/2017, bà Triệu Thị L thanh toán không đủ số tiền nên phát sinh lãi trong hạn 21%/năm và phí chậm thanh toán 100.000 đồng/tháng.

Ngày 24/11/2017, bà Triệu Thị L không thanh toán nên bắt đầu tính chuyển nợ quá hạn chịu lãi suất 31.5%/năm.

Do bà Triệu Thị L vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 7 của Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP N1), sau khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng TMCP N1 đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 6 của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP N1). Tính đến ngày 05/6/2024 bà Triệu Thị L còn nợ Ngân hàng số tiền là: 178.711.341 đồng, trong đó nợ gốc: 55.963.876 đồng, nợ lãi trong hạn là: 6.127.728 đồng, nợ lãi quá hạn là: 116.619.737 đồng. Ngân hàng TMCP N1 yêu cầu bà Triệu Thị L có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP N1 số nợ trên làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử có mặt, bị đơn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định quan hệ tranh chấp, tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như việc gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có căn cứ xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ tục tố tụng:

Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tại kết quả trả lời xác minh ngày 26/02/2024 của Ban C, quận G, Thành phố hồ Chí Minh với nội dung: “Bà Triệu Thị L, sinh năm 1978 có hộ khẩu thường trú tại số F Q, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thực tế không còn sinh sống tại địa phương từ 2015 đến nay, không rõ nơi ở hiện nay”.

Như vậy địa chỉ số F Q, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn, bị đơn thay đổi nơi cư trú không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ với người khởi kiện. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về sự vắng mặt của các đương sự: Đại diện nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về thời hiệu khởi kiện: Do một bên hay các bên đương sự không yêu cầu xem xét về thời hiệu khởi kiện do đó Hội đồng xét xử không áp dụng quy định về thời hiệu theo quy định tại Điều 149 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa, bà L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có lời khai và các tài liệu, chứng cứ giao nộp cho Tòa án để thể hiện sự phản đối yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà L đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử căn cứ các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để xem xét giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 03/11/2014; Bản các Điều khoản và Điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP N1 có cơ sở để xác định giữa bà L và Ngân hàng có xác lập giao dịch tín dụng, theo đó Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng cho bà L với hạn mức sử dụng là 60.000.000 đồng, lãi suất và phí theo Biểu phí áp dụng chung cho các sản phẩn dịch vụ thẻ cho khách hàng cá nhân của Ngân hàng TMCP N1.

Việc xác lập giao dịch tín dụng giữa Ngân hàng và bà L là phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Theo thỏa thuận tại Điều 9 và khoản 13.2Điều 13 Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP N1 có hiệu lực từ ngày 20/8/2013, bà L phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho Ngân hàng các khoản phải thanh toán được quy định trong Bảng thông báo giao dịch hàng tháng không phụ thuộc vào việc chủ thẻ có nhận được Bảng thông báo giao dịch hay không. Nhưng từ khi kích hoạt thẻ đến nay, bà L chỉ thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 91.855.009 đồng rồi ngưng không thanh toán nữa. Như vậy bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng.

Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà L thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 05/6/2024 là 178.711.341 đồng, trong đó nợ gốc: 55.963.876 đồng, nợ lãi trong hạn là: 6.127.728 đồng, nợ lãi quá hạn là: 116.619.737 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về thời hạn thanh toán: Do bà L vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử nghĩ cần buộc bà L phải trả số tiền trên cho nguyên đơn làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 06/6/2024 bà L còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có cơ sở nên ghi nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ quy định của Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà L phải chịu án phí là 8.935.567 đồng.

Hoàn tiền tạm nộp án phí cho Ngân hàng TMCP N1 là 4.270.284 đồng (Bốn triệu hai trăm bảy mươi ngàn hai trăm tám mươi bốn đồng) theo biên lai thu số 0012563 ngày 22/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 97 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Buộc bà Triệu Thị L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 số tiền nợ gốc và lãi phát sinh tính đến ngày 05/6/2024 là 178.711.341 đồng, trong đó nợ gốc: 55.963.876 đồng, nợ lãi trong hạn là: 6.127.728 đồng, nợ lãi quá hạn là: 116.619.737 đồng. Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày 06/6/2024 bà L còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Triệu Thị L phải chịu án phí sơ thẩm là 8.935.567 đồng (Tám triệu chín trăm ba mươi lăm ngàn năm trăm sáu mươi bảy đồng).

    Hoàn tiền tạm nộp án phí cho Ngân hàng TMCP N1 là 4.270.284 đồng (Bốn triệu hai trăm bảy mươi ngàn hai trăm tám mươi bốn đồng) theo biên lai thu số 0012563 ngày 22/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

  3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP N1, bà Triệu Thị L vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q. Gò Vấp;
  • - Lưu VP, Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2024/DS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 271/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger