TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 271/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 03/8/2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thà
Bà Ngô Thị Thơm
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 133/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 163/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 03/TB-TA ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 04/TB-TA ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị M, sinh năm 1986,
Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn P, sinh năm 1981,
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Đ, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan.
Chị M, anh P đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai, biên bản lấy lời khai, chị Bùi Thị M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đặng Văn P tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 16/5/2003 và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng nhau chung sống tại thôn Đ, xã L, huyện T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2012 anh P đi lao động ở Đài Loan. Vợ chồng xa cách nên tình cảm phai nhạt, anh P ít liên lạc về với gia đình, không quan tâm đến chị trong cuộc sống. Năm 2014 anh P về thăm gia đình một thời gian ngắn xong tiếp tục quay lại Đài Loan đến nay chưa về nước. Từ năm 2014 anh P đã không gửi tiền về cho chị để trang trải cuộc sống, mà chỉ có một mình chị ở Việt Nam chăm sóc các con. Khoảng 02 năm trở lại đây anh P đã không liên lạc với chị mà chỉ thi thoảng gọi điện cho các con. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh P để sớm ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Đặng Thùy L, sinh ngày 31/01/2004 và cháu Đặng Phương M1, sinh ngày 09/10/2012. Cháu L đã trưởng thành lấy chồng, còn cháu M1 hiện nay vẫn đang ở với chị. Ly hôn chị có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc với cháu M1 và tự nguyện không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị.
- Về tài sản, vay nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Cháu Đặng Thùy L (là con đẻ của anh Đặng Văn P) trình bày: Anh Đặng Văn P hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, anh P vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Anh P đã biết việc chị M có đơn xin ly hôn và có quan điểm nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị M và đồng ý để chị M được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Đặng Phương M1, sinh ngày 09/10/2012, chị M không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung, anh nhất trí. Về tài sản: Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh P đang ở Đài Loan, các văn bản tố tụng Tòa án giao cho anh P, cháu sẽ nhận thay và cam kết giao lại, thông báo cho anh P được biết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị M có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh P vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Bùi Thị M được ly hôn với anh Đặng Văn P; Giao cho chị M tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Đặng Phương M1, sinh ngày 09/10/2012 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết. Về án phí: Chị M phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị M có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Đặng Văn P. Anh P hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị M không cung cấp được địa chỉ của anh P tại Đài Loan. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị M và gia đình anh P cung cấp địa chỉ nhưng chị M không cung cấp được. Thông qua gia đình xác định anh P có liên lạc về gia đình, gia đình anh P không cung cấp được địa chỉ của anh P tại Đài Loan. Do vậy, áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa chị M có đơn xin xét xử vắng mặt; anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị M, anh P.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị M và anh Đặng Văn P tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 16/5/2003 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh P đi lao động ở Đài Loan, vợ chồng đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Chị M xác định không còn tình cảm với anh P và có đơn xin ly hôn. Thông qua gia đình, anh P xác định nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị M. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng chị M, anh P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị M được ly hôn anh P là phù hợp.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị M, anh P có 02 con chung là cháu Đặng Thùy L, sinh ngày 31/01/2004 và cháu Đặng Phương M1, sinh ngày 09/10/2012, cháu L đã trưởng thành, chai M1 hiện đang ở cùng với chị M. Khi ly hôn chị M có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Đặng Phương M1 và tự nguyện không yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh P có quan điểm nhất trí. Xét thấy, cháu M1 đang có cuộc sống ổn định cùng với chị M và có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, cần tiếp tục giao cháu M1 cho chị M được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Đặng Văn P được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3] Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị M được ly hôn anh Đặng Văn P.
2. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị M được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Đặng Phương M1, sinh ngày 09/10/2012 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị M không yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Đặng Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Bùi Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000531 ngày 19/3/2024 (chị M đã nộp đủ án phí).
4. Về quyền kháng cáo: Chị M vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Cường |
Bản án số 271/2024/HNGĐ-ST ngày 03/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 271/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Mận Phú
