TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 271/2025/HS-PT Ngày 02 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Trung;
Ông Vũ Thế Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Từ ngày 29 tháng 5 đến ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Viết M; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 252/2024/HS-ST ngày 20-11-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Bị cáo có kháng cáo: Phạm Viết M, sinh ngày 15/8/1992 tại Nghệ An; Căn cước công dân: [...] được Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 03/8/2022; nơi đăng ký thường trú: Tổ C, Khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp, chức vụ trước khi phạm tội: Đảng viên Đảng CSVN – Viên chức Trung tâm phát triển quỹ đất huyện L. Đã bị Ủy Ban kiểm tra Thành ủy B đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 13/3/2024 (Quyết định số 193 - QĐ/UBKTTU); trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Viết C, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968 (chết); gia đình bị cáo có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; có vợ tên Lê Thị Thùy N, sinh năm 1993 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2021, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 01/11/2023 và chuyển tạm giam đến ngày 06/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai hủy bỏ biện pháp tạm giam theo quyết định số 2176/QĐ-VKS-P3 và được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 2177/LCCT-VKS-P3 ngày 06/5/2024; có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Viết M là Viên chức Trung tâm phát triển quỹ đất huyện L tỉnh Đồng Nai. Quá trình thực hiện Dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Cảng hàng không Quốc tế L, M được phân công nhiệm vụ: kiểm đếm, áp giá, nội nghiệp hồ sơ, chi trả tiền bồi thường, công khai phương án bồi thường đối với những hộ dân tại ấp S, 2, 3 và Ấp A thuộc xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Ngày 31/12/2021 M thực hiện nhiệm vụ kiểm đếm tài sản trên đất của hộ bà Bùi Thị N1 tại ấp S, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kiểm đếm, M biết đất bà N1 mua bán bằng “giấy viết tay” nên gọi điện thoại cho bà N1 đến phòng làm việc của M tại Trung tâm Văn hóa huyện L để trao đổi về việc nhận bồi thường, cấp tái định cư. Khoảng đầu tháng 01/2022 (không nhớ ngày) bà N1 đi cùng với anh Cao Văn N2 (con rễ của bà N1) đến gặp M tại phòng làm việc của M, tại đây M nói đất của bà N1 mua bán bằng giấy tay nên chưa được xử lý hồ sơ bồi thường, hồ sơ sẽ giải quyết rất lâu. Nghe vậy, bà N1 và anh N2 nhờ M giúp đỡ, tạo điều kiện để nhận được tiền đền bù, xét tái định cư nhanh thì M đồng ý với điều kiện phải đưa cho M 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) thì bà N1, anh N2 đồng ý. Đến Khoảng cuối tháng 01/2022 (không nhớ ngày) anh Cao Văn N2 gọi điện thoại cho M đến nhà bà N1 tại ấp S, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; tại đây anh N2 đưa cho M 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) và nói với M đây là số tiền đưa trước, khi nào nhận được tiền đền bù, cấp tái định cư thì bà N1 sẽ đưa M số tiền còn lại thì M đồng ý và nhận của anh N2 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Sau khi nhận tiền, M đã giải quyết nhanh hồ sơ của bà N1, đến tháng 06/2023 thì bà N1 nhận được tiền đền bù và được cấp đất tái định cư. Sau đó, anh N2 gọi cho M hỏi bà N1 đưa cho M 20.000.000 đồng còn lại chưa, M nói với anh N2 là bà N1 cho M. Ngày 15/6/2023, bà N1 đưa 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) cho anh N2 để anh N2 đưa cho M, anh N2 đến công viên V huyện L, tỉnh Đồng Nai rồi gọi điện thoại cho M đến để lấy tiền, khi gặp anh N2, M yêu cầu anh N2 bỏ 20.000.000 đồng vào cốp xe mô tô biển số 60C1- 44055 của Lê Thị Thùy N (vợ bị can M).
Do bức xúc hành vi đòi hối lộ của Phạm Viết M nên Cao Văn N2 và bà Bùi Thị N1 làm đơn tố cáo M gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Ngày 01/11/2023, Phạm Viết M bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
Về vật chứng:
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng hồng, số máy: MT5M2LL/A, số Seri: FK1XFFKQPHF; IMEI 1: 357264093073063; IMEI 02: 357264092970772, số E: 0963039940 và sim vật lý số: 0363883165, đã qua sử dụng của bị cáo Phạm Viết M, Cơ quan điều tra đang tạm giữ.
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Balde, biển số 60C1- 233.79.màu vàng đen bạc, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của chị Lê Thị Thùy N (vợ của bị cáo M) N không biết M sử dụng vào việc phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Lê Thị Thùy N.
- + 01 (một) CPU chứa 01 file liên quan đến công tác của Phạm Viết M. Sau khi trích xuất dữ liệu để phục công tác điều tra, Cơ quan điều tra đã giao trả lại Trung tâm phát triển quỹ đất huyện L.
- + 01 (một) thùng tài liệu, chứa: 03 bản đồ thu hồi đất dự án mở rộng đường L (Quốc lộ E); 12 quyển tập học sinh; 151 tờ tài liệu không liên quan đến Dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Cảng hàng không quốc tế L. Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho Trung tâm phát triển quỹ đất huyện L.
- + 01 (một) USB nhãn hiệu “ADATA C008/16GB" do ông Cao Văn N2 giao nộp chứa file ghi âm, được lưu trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra chị Lê Thị Thùy N vợ của bị cáo Phạm Viết M tự nguyện giao nộp số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) tiền bị cáo Phạm Viết M nhận của bà Bùi Thị N1 để khắc phục hậu quả, hiện Cơ quan điều tra đang tạm giữ.
2. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án sơ thẩm số: 252/2024/HS-ST ngày 20-11-2024, Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 354; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Phạm Viết M phạm tội “Nhận hối lộ”.
Xử phạt bị cáo Phạm Viết M 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giam trước đó từ ngày 01/11/2023 đến ngày 06/5/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định.
3. Kháng cáo:
Trong thời hạn luật định, bị cáo Phạm Viết M kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án và đề nghị:
Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 354 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Về kháng cáo: Bị cáo kháng cáo cung cấp đơn xin xác nhận có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú. Ngoài ra, còn có những người thân là cô, dì ruột của bị cáo là người có công với cách mạng đã được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương là tình tiết mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên áp dụng cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 354 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về căn cứ quyết định hình phạt và kháng cáo:
2.1. Về căn cứ quyết định hình phạt:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- + Tại cấp sơ thẩm: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã khắc phục hậu quả nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong quá trình công tác bị cáo được UBND huyện tặng giấy khen; ngoài ra, bị cáo M có ông nội là Phạm Viết V, ông ngoại là Nguyễn Văn N3 là người có công với cách mạng được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- + Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo cung cấp đơn xin xác nhận có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú. Ngoài ra, còn có những người thân là cô, dì ruột của bị cáo là người có công với cách mạng đã được Nhà nước tặng hưởng nhiều huân, huy chương là tình tiết mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo.
2.2. Về kháng cáo và hình phạt:
Bị cáo là viên chức, được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện kiểm đếm, áp giá, nội nghiệp hồ sơ, chi trả tiền bồi thường, công khai phương án bồi thường đối với những hộ dân thuộc diện giải tỏa đền bù để thực hiện dự án Cảng hàng không quốc tế sân bay L; đây là công trình trọng điểm quốc gia được dư luận xã hội quan tâm. Lợi dụng nhiệm vụ được giao, bị cáo đã thực hiện việc nhận tiền của người dân mới giải quyết hồ sơ trong khi họ đương nhiên được giải quyết chế độ theo quy định, làm giảm uy tín của đội ngũ cán bộ thực thi nhiệm vụ và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, tính chất mức độ hành vi phạm tội xử bị cáo cáo 02 năm tù là có căn cứ. Bị cáo xin hưởng án treo là không có cơ sở chấp nhận.
Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp được nhiều tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xét thấy, bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện đang nuôi con chưa thành niên, trong đó có con vừa mới sinh năm 2024, bản thân bị cáo hiện đang mắc bệnh tâm thần rối loạn cảm xúc lưỡng cực (F31) đang phải uống thuốc điều tại Bệnh viện T1; do đó, chấp nhận một phần kháng cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[3] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Phạm Viết M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phạm Viết M; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 252/2024/HS-ST ngày 20-11-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành về hình phạt.
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 354; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Phạm Viết M phạm tội “Nhận hối lộ”.
Xử phạt bị cáo Phạm Viết M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giam trước đó từ ngày 01/11/2023 đến ngày 06/5/2024.
2. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Phạm Viết M không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về biện pháp tư pháp; xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Quang |
Bản án số 271/2025/HS-PT ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (nhận hối lộ)
- Số bản án: 271/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Nhận hối lộ)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo
