|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 271/2025/DS-ST Ngày: 20/6/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thanh Thủy
- Ông Nguyễn Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Trúc Ly – Là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 280/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2025/QĐXXST-DS ngày 08/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 135/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP A.
Địa chỉ trụ sở: Tòa nhà G, C H, phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện của nguyên đơn: Ông Trần Thành T (có mặt) và/hoặc ông Nguyễn Hữu N (vắng mặt).
Cùng địa chỉ liên hệ: Số A đường P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Là người đại diện theo ủy quyền, Giấy ủy quyền số: 426/UQ-TGĐ.24 ngày 21/5/2024).
- Bị đơn: Ông Trương Đình B, sinh năm 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: 4 đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Văn Tấn T1, sinh năm 1994,
- Bà Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1993,
- Trẻ Phan Nguyễn Thiên K, sinh năm 2021 (là con ruột của ông Phan Văn Tấn T1 và bà Nguyễn Ngọc Á).
Địa chỉ: D đường N, khu G, phường Đ, Thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.
Địa chỉ: D đường N, khu G, phường Đ, Thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Văn Thị T2, sinh năm 1966 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: D đường N, khu G, phường Đ, Thành phố T, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 14/12/2021, Ngân hàng TMCP A – Chi nhánh Thành phố H – Phòng G (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) và ông Trương Đình B có ký Hợp đồng cho vay từng lần số: 5974/21/TD/I.39. Theo hợp đồng, Ngân hàng cho ông Trương Đình B vay 2.300.000.000 đồng để thanh toán tiền nhận chuyển nhượng bất động sản của thửa đất số 1183, tờ bản đồ số 09-3, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Lãi suất vay trong 12 tháng đầu tiên là 7,99%/năm, từ tháng thứ 13 đến tháng thứ 36 lãi suất được tính bằng lãi suất cơ sở cộng với biên độ 3,4%/năm. Từ tháng thứ 37 trở đi lãi suất được tính bằng lãi suất cơ sở cộng với biên độ 3,9%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Thời hạn vay là 360 tháng tính từ ngày tiếp theo của ngày Ngân hàng giải ngân. Việc trả nợ gốc và lãi được phân chia theo các kỳ hạn hàng tháng.
Để đảm bảo cho khoản vay, ông Trương Đình B đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 5974/21/TC/I.39 ngày 14/12/2021. Theo hợp đồng, ông Trương Đình B thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (do ông B là chủ sử dụng, chủ sở hữu) tại thửa đất số 1183, tờ bản đồ số 09-3, tọa lạc tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV575478, số vào sổ cấp GCN: CS09754 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/6/2020).
Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ số tiền 2.300.000.000 đồng cho ông Trương Đình B, theo Giấy nhận nợ số 5974/21TD/I.39 ngày 17/12/2021.
Tuy nhiên, ông Trương Đình B không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Trong quá trình vay tiền, ông B mới trả cho Ngân hàng được 140.580.000 đồng tiền nợ gốc và 414.121.070 đồng tiền nợ lãi. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở nhưng ông B vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng D, Ngân hàng đã khởi kiện ông Trương Đình B để thu hồi nợ.
Tại phiên tòa, Ngân hàng yêu cầu ông Trương Đình B phải trả cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 20/6/2025 là 2.733.066.148 đồng gồm: Tiền vốn gốc 2.159.420.000 đồng; tiền lãi trong hạn là 551.125.232 đồng; tiền lãi quá hạn là 22.520.916 đồng.
Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, ông Trương Đình B còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay từng lần số: 5974/21/TD/I.39 ngày 14/12/2021.
Trường hợp ông Trương Đình B không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1183, tờ bản đồ số 09-3, tọa lạc tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV575478, số vào sổ cấp GCN: CS09754 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/6/2020) để thu hồi nợ.
Ngân hàng xác định khoản nợ vay nêu trên là của cá nhân ông Trương Đình B đối với Ngân hàng nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân ông Trương Đình B trả nợ cho Ngân hàng.
Tại Bản tự khai ngày 26/5/2025, bà Văn Thị T2 là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Trương Đình B thế chấp cho Ngân hàng TMCP A1 sử dụng đất tại thửa đất số 1183, tờ bản đồ số 09-3, tọa lạc tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương để vay tiền. Sau khi thế chấp cho ngân hàng, ông B đã xây dựng nhà trên mảnh đất thế chấp và cho gia đình ông Phan Văn Tấn T1 sử dụng.
Hiện nay, gia đình ông Phan Văn Tấn T1 cùng vợ là Nguyễn Ngọc Á và con Phan Nguyễn Thiên K, sinh năm 2021, đang ở trên tài sản mà ông Trương Đình B thế chấp cho Ngân hàng.
Nay Ngân hàng khởi kiện ông Trương Đình B về hợp đồng tín dụng với yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1183, tờ bản đồ số 09-3, tọa lạc tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương để thu hồi nợ thì ông T1, bà Á và trẻ K không có yêu cầu gì trong vụ án. Ông T1, bà Á và trẻ K cũng không có tranh chấp gì với ông Trương Đình B và với Ngân hàng về quyền sở hữu, quyền sử dụng nhà đất tại thửa đất số 1183, tờ bản đồ số 09-3, tọa lạc tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Gia đình ông T1 chỉ xin Ngân hàng giảm lãi suất cho ông B để ông B có điều kiện trả nợ cho Ngân hàng và giải chấp tài sản mà ông B đã thế chấp cho Ngân hàng. Bà Văn Thị T2 xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết và xét xử vụ án.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trương Đình B đều vắng mặt nên không có lời khai.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án chậm đưa vụ án ra xét xử nên đã vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do, đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP A khởi kiện ông Trương Đình B yêu cầu trả nợ vay trong hợp đồng tín dụng, do đó quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét thấy, bị đơn ông Trương Đình B có nơi cư trú tại Quận A, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Xét Giấy ủy quyền số: 426/UQ-TGĐ.24 ngày 21/5/2024 của ông Nguyễn Q ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu N và/hoặc ông Trần Thành T tham gia tố tụng giải quyết vụ án là hợp lệ, được Tòa án chấp nhận.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trương Đình B vắng mặt không có lý do, người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Đồng thời, nguyên đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hoà giải được vụ án. Tại phiên tòa ngày hôm nay, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn: Căn cứ vào Hợp đồng cho vay từng lần số: 5974/21/TD/I.39 ngày 14/12/2021, Hội đồng xét xử xét thấy giao dịch vay tài sản giữa Ngân hàng TMCP A và ông Trương Đình B là loại vay có thời hạn và có biện pháp bảo đảm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng được quyền khởi kiện đối với ông Trương Đình B để thu hồi nợ.
[2.1] Xét yêu cầu về khoản nợ gốc: Căn cứ vào Hợp đồng cho vay từng lần số 5974/21/TD/I.39 ngày 14/12/2021 và Giấy nhận nợ số 5974/21TD/I.39 ngày 17/12/2021, Hội đồng xét xử có cơ sở để khẳng định Ngân hàng TMCP A có cho ông Trương Đình B vay 2.300.000.000 đồng. Theo các bản khai và bảng kê do Ngân hàng cung cấp cho thấy ông Trương Đình B có trả cho Ngân hàng được 140.580.000 đồng tiền nợ gốc, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ông Trương Đình B còn nợ Ngân hàng 2.159.420.000 đồng tiền nợ gốc. Do đó, Hội đồng xét xử cần buộc ông Trương Đình B phải trả cho Ngân hàng khoản tiền nợ gốc còn lại là 2.159.420.000 đồng.
[2.2] Xét yêu cầu về khoản nợ lãi: Theo Hợp đồng cho vay từng lần số 5974/21/TD/I.39 ngày 14/12/2021 và Giấy nhận nợ số 5974/21TD/I.39 ngày 17/12/2021, các bên có thỏa thuận lãi suất vay trong 12 tháng đầu tiên là 7,99%/năm, từ tháng thứ 13 đến tháng thứ 36 lãi suất được tính bằng lãi suất cơ sở cộng với biên độ 3,4%/năm. Từ tháng thứ 37 trở đi lãi suất được tính bằng lãi suất cơ sở cộng với biên độ 3,9%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Xét thấy, mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là phù hợp với khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Theo lời khai và bảng kê do Ngân hàng cung cấp, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 20/6/2024, ông Trương Đình B còn nợ Ngân hàng số tiền lãi là 573.646.148 đồng trong đó: Nợ lãi trong hạn là 551.125.232 đồng, nợ lãi quá hạn là 22.520.916 đồng. Xét thời gian tính lãi và cách tính lãi mà Ngân hàng áp dụng đối với ông Trương Đình B không trái với hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết và không trái với Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về khoản nợ lãi, buộc ông Trương Đình B phải trả cho Ngân hàng khoản nợ lãi là 573.646.148 đồng.
[2.3] Về yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay, ông Trương Đình B đã ký kết với Ngân hàng TMCP A Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5974/21/TC/I.39 ngày 14/12/2021. Theo hợp đồng, ông Trương Đình B thế chấp cho Ngân hàng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (do ông B là chủ sử dụng, chủ sở hữu) tại thửa đất số 1183, tờ bản đồ số 09-3, tọa lạc tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV575478, số vào sổ cấp GCN: CS09754 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/6/2020).
Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 5974/21/TC/I.39 ngày 14/12/2021 có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật. Hợp đồng được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng này đã phát sinh hiệu lực pháp luật và có giá trị ràng buộc đối với các bên.
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/6/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10 cho thấy, trên thửa đất số 1183, tờ bản đồ số 09-3, tọa lạc tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương đang tồn tại một căn nhà cấp 4 với kết cấu tường gạch, mái ngói. Căn nhà này do gia đình ông Phan Văn Tấn T1 cùng vợ là Nguyễn Ngọc Á và con Phan Nguyễn Thiên K, sinh năm 2021 đang ở. Tại Công văn trả lời xác minh số 3861/UBND-VP ngày 19/8/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã xác định: Ủy ban nhân dân thành phố T có cấp phép xây dựng đối với căn nhà thuộc thửa đất số 1183, tờ bản đồ số 09-3, tọa lạc tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào các tài liệu trên cho thấy trên mảnh đất mà ông Trương Đình B thế chấp cho Ngân hàng có nhà ở gắn liền với đất. Nhà ở này có giấy phép xây dựng.
Xét thấy, khi ông Trương Đình B thế chấp cho Ngân hàng là mảnh đất trống. Tuy nhiên hiện nay mảnh đất có nhà ở gắn liền với đất. Căn cứ vào điểm f khoản 3 Điều 3 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5974/21/TC/I.39 ngày 14/12/2021 quy định các trường hợp sau cũng thuộc tài sản bảo đảm: “Mọi tiện ích, công trình xây dựng gắn liền với tài sản bảo đảm (bổ sung, nâng cấp, cải tạo, sửa chữa) được xây dựng trước hoặc sau thời điểm ký hợp đồng này, ngay cả trong trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu/sử dụng”. Với thỏa thuận này thì căn nhà đang tồn tại trên mảnh đất mà ông B đã thế chấp cho Ngân hàng đều thuộc về tài sản thế chấp. Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi căn nhà gắn liền với đất khi ông B vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Xét ông Trương Đình B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Do đó căn cứ vào Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5974/21/TC/I.39 ngày 14/12/2021 thì Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1183, tờ bản đồ số 09-3, tọa lạc tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương để thu hồi nợ.
Xét thấy hiện nay, ông Phan Văn Tấn T1 cùng vợ là Nguyễn Ngọc Á và con Phan Nguyễn Thiên K, sinh năm 2021 đang ở trên nhà đất thế chấp tại thửa đất số 1183, tờ bản đồ số 09-3, tọa lạc tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông T1, bà Á và trẻ K không có yêu cầu gì trong vụ án và không có tranh chấp gì với ông Trương Đình B cũng như với Ngân hàng về nhà đất mà ông B thế chấp cho Ngân hàng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Ông T1, bà Á và trẻ K có nghĩa vụ phải chấp hành các quyết định khi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành phát mãi tài sản thế chấp.
[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về chi phí tố tụng: Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Do đó, bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn 15.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà nguyên đơn đã nộp theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 167, Điều 170 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,
QUYẾT ĐỊNH:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn: Buộc ông Trương Đình B phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP A số tiền 2.733.066.148 đồng (hai tỷ bảy trăm ba mươi ba nghìn không trăm sáu mươi sáu nghìn một trăm bốn mươi tám đồng gồm: Tiền vốn gốc 2.159.420.000 đồng (hai tỷ một trăm năm mươi chín triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng); tiền lãi trong hạn là 551.125.232 đồng (năm trăm năm mươi mốt triệu một trăm hai mươi lăm nghìn hai trăm ba mươi hai đồng); tiền lãi quá hạn là 22.520.916 đồng (hai mươi hai triệu năm trăm hai mươi nghìn chín trăm mười sáu đồng).
Ngay sau khi ông Trương Đình B thanh toán xong số tiền còn phải thi hành cho Ngân hàng TMCP A thì Ngân hàng TMCP A có trách nhiệm thanh lý, giải chấp các hợp đồng liên quan đến số tiền nợ và hoàn trả cho ông Trương Đình B bản chính các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp (nếu không còn thế chấp cho khoản vay nào khác), theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5974/21/TC/I.39 ngày 14/12/2021.
Trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Trương Đình B không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nêu trên thì Ngân hàng TMCP A được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1183, tờ bản đồ số 09-3, tọa lạc tại phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 5974/21/TC/I.39 ngày 14/12/2021) để thu hồi nợ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay từng lần số 5974/21/TD/I.39 ngày 14/12/2021.
- Về án phí: Buộc Trương Đình B phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 86.661.323 đồng (tám mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm hai mươi ba đồng).
Ngân hàng TMCP A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP A số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 39.556.008 đồng (ba mươi chín triệu năm trăm năm mươi sáu nghìn không trăm linh tám đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0020334ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trương Đình B phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP A 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Xuân Hương |
Bản án số 271/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 271/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
