|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập– Tự do– Hạnh phúc |
Bản án số: 271/2024/HS-ST
Ngày: 20/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền.
Bà Tô Thị Kim Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 247/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266 /2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Công T ( tên gọi khác: Không ), sinh ngày 05 tháng 9 năm 1996, tại: Hoà Bình; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở : Khu phố H, thị trấn H, huyện K, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Ngọc D và bà: Phan Thị T1; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 149/2022/HSST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội xử Trương Công T 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 52 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 01/6/2024, hiện đang tạm giam tại trại giam S, Công an thành phố H; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
Anh Lại Tiến T2, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Số H P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Công T và Lại Tiến T2, sinh năm (SN) 1997, hộ khẩu thường trú (HKTT): phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam là bạn chơi với nhau từ khoảng năm 2017 đến nay. Khoảng tháng 6 năm 2023, T ở cùng với T2 tại phòng 12A07, Chung cư H P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Tại đây, T liên hệ với Ban Q làm 01 thẻ gửi xe máy (vé tháng) để gửi chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH, BKS 29B1-72669 của T tại tầng hầm của chung cư.
Quá trình sống chung, do T2 và T sử dụng túi đeo chéo giống hệt nhau nên T2 đã để nhầm chiếc chìa khóa điện Smart Key của chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA SH 125i màu đen, biển kiểm soát (BKS) 90B3-380.27 của T2 vào túi đeo của T, nhưng do T cũng sử dụng xe máy nhãn hiệu HONDA SH nên cũng có chìa khóa Smart Key giống T2 nên T nghĩ là chìa khóa Smart Key dự phòng của mình. T2 bị thất lạc chìa khóa xe nhưng không nói gì với T và lấy chìa khóa dự phòng khác ra để sử dụng.
Đến khoảng tháng 11 năm 2023, T không ở cùng T2 và chuyển đến thuê trọ ở khu vực Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Lúc này, T mới biết chiếc chìa khóa Smart Key trong túi đeo của T không phải là chìa khóa xe của mình mà là chìa của T2, tuy nhiên do T2 không nói gì nên T chưa trả lại chìa khóa xe cho T2. Đến khoảng tháng 12 năm 2023, T chuyển đến sống cùng bạn gái là Trần Hồng H (SN 1995, HKTT: xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình) thuê trọ tại số D hẻm C P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội, trong thời gian này thỉnh thoảng T vẫn qua phòng trọ của T2 chơi và ngủ lại phòng trọ cùng T2. Do khó khăn về kinh tế, không có việc làm, không có thu nhập nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA SH 125i màu đen, BKS: 90B3-380.27 của T2 để đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Thực hiện mục đích trên, khoảng 22 giờ 00 phút ngày 03/4/2024 T đến phòng 12A07, Chung cư H P chơi và ngủ lại. Khoảng 07 giờ 00 ngày 04/4/2024, lợi dụng lúc T2 đang ngủ, T mở ví da của T2 lấy và tráo chiếc thẻ gửi xe máy của T2 với chiếc thẻ gửi xe máy T đã làm tại Ban Q trước đó, đến khoảng 16 giờ 00 Thành bắt xe ôm ra về. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, T đi xe ôm của người không quen biết đến phòng trọ cũ tại khu vực Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội để lấy mũ bảo hiểm, áo khoác, quần dài màu đen để tránh bị phát hiện. Sau đó, T bắt xe ôm đi từ nhà trọ đến khu đô thị V rồi đi bộ đến Tòa Chung cư H P. Trên đường đi, T mặc áo khoác rồi đi xuống tầng hầm chung cư H P. Tai tầng hầm chung cư, T ấn nút trên chiếc chìa khóa Smart Key của T2 để tìm xe thì thấy chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA SH 125i BKS: 90B3-380.27 của T2 phát tín hiệu. Thấy vậy, T tiến đến gần, ngồi lên chiếc xe và điều khiển xe đi ra bốt bảo vệ, để tránh bị bảo vệ phát hiện, T sử dụng chiếc thẻ gửi xe máy của T2 để qua bốt bảo vệ. Sau khi lấy trộm được chiếc xe, T điều khiển chiếc xe đi đến khu vực bến xe M để gửi xe rồi đi về phòng trọ ở số D hẻm C P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Tại phòng trọ, T sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên "Công Thành", tìm nhóm "Xe Không Giấy Tờ Hà Nội" và thấy một bài đăng của một tài khoản mạng xã hội Facebook có tên "Nguyen Nghia" ở trên nhóm với nội dung "tìm xe SH không giấy tờ ở Hà Nội”. T nhắn tin trực tiếp với tài khoản Facebook này để bán chiếc xe máy vừa trộm cắp của T2 thì được tài khoản "Nguyen Nghia" liên hệ hỏi mua. Đúng 07 giờ 30 phút ngày 05/4/2024, T và người này gặp nhau tại gần bãi gửi xe khu vực bến xe M để xem xe. Sau khi xem xe xong thì hai bên thống nhất mua, bán xe với giá 28.000.000 đồng (hai mươi tám triệu đồng).
Ngày 04/4/2024, anh Lại Tiến T2 phát hiện chiếc xe nhãn hiệu Honda SH 125i màu đen, BKS: 90B3-380.27 bị mất trộm. Do anh T2 phát hiện thẻ gửi xe máy của T trong ví mình nên đã nghi ngờ T lấy trộm xe máy của anh T2. Ngày 31/5/2024, anh T2 trình báo với Công an phường P về việc bị mất trộm tài sản. Cùng ngày, Trương Công T đã chủ động đến Công an phường P xin đầu thú và thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Vật chứng không thu giữ được: 01 xe máy nhãn hiệu HONDA SH 125i màu đen, BKS: 90B3-380.27 là tài sản Trương Công T đã chiến đoạt của anh Lại Tiến T2.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 4935 đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i màu đen, BKS: 90B3-380.27. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 90 cùng ngày 31/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận: “Giá trị tài sản 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i màu đen, biểm kiểm soát: 90B3-380.27, số máy: JF95E0078309, số khung: RLHJF9503MY011425 (đã qua sử dụng, chưa thu được tang vật) là 72.800.000 đồng”.
Ngày 01/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 928/LKX-ĐTTH và tiến hành khám xét đối với Trương Công T tại nơi ở địa chỉ số D hẻm C P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội, nhưng không thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Đối với người nam giới có tên tài khoản facebook “Nguyen Nghia” mua xe của Trương Công T. Quá trình điều tra, T khai nhận không quen biết người này, khi mua xe T không nói cho người này biết là tài sản do trộm cắp mà có. Hiện tài khoản facebook trên đã không còn, ngoài lời khai của T không còn tài liệu nào khác nên không xem xét xử lý. Ngày 20/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an quận H đã ra Quyết định truy tìm số 5285 đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i màu đen, BKS: 90B3-380.27 của anh Lại Tiến T2 nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả .
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Lại Tiến T2 yêu cầu Trương Công T phải bồi thường số tiền 72.800.000 đồng (bảy mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng) là giá trị chiếc xe máy T đã chiếm đoạt của anh T2.
Tại cơ quan điều tra, Trương Công T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 240/CT-VKS-HĐ ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Trương Công T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Trương Công T như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 của bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trương Công T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với 26 tháng tù của bản án số 149/2022/HSST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án từ 05 năm 02 tháng đến 05 năm 08 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 01/6/2024 nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2022 đến ngày 18/8/2022.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự :
Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại là anh Lại Tiến T2 số tiền 72.800.000 đồng (bảy mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng) là giá trị chiếc xe máy T đã chiếm đoạt của anh T2.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Trương Công T không có tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân quận H, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Công T không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trương Công T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của bị hại trong vụ án cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/4/2024, tại tầng hầm chung cư H P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, Trương Công T đã có hành vi đã lén lút chiếm đoạt của anh Lại Tiến T2 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i màu đen, BKS: 90B3-380.27 trị giá 72.800.000 đồng. Sau đó T đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết với giá 28.000.000 đồng. Phát hiện bị mất tài sản, ngày 31/5/2024 anh Lại Tiến T2 đã đến trình báo tại Công an phường P. Cùng ngày, Trương Công T đã đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bản thân. Bị cáo Trương Công T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo Trương Công T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản, được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Trương Công T về tội “Trộm cắp tài sản, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội có mục đích, có chủ định từ trước, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản để chiếm đoạt lấy tiền tiêu sài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự trị an, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Trương Công T phạm tội trong thời gian thử thách của bản án số 149/2022/HSST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, do đó lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5].Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo bị cáo Trương Công T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, khi hành vi phạm tội của bị cáo bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Do đó bị cáo đủ điều kiện hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6].Về nhân thân:
Bị cáo Trương Công T có 01 tiền án chưa được xóa.
[7]. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, xét thấy bị cáo T là người đã được pháp luật giáo dục, nhưng không chịu sửa đổi bản thân mà lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội của mình là cố ý vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo một thời gian để cải tạo giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên sau khi xem xét toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình, khi hành vi phạm tội của các bị cáo bị phát hiện các bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[8]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập, do vậy không cần thiết phái áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[9]. Về trách nhiệm dân sự:
Chủ sở hữu tài sản là Lại Tiến T2 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 72.800.000 đồng (bảy mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng) là giá trị chiếc xe máy T đã chiếm đoạt của anh T2 là có căn cứ nên cần chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
-
1.Tuyên bố: Bị cáo Trương Công T phạm tội Trộm cắp tài sản.
Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Trương Công T 36 ( ba mươi sáu ) tháng tù. Tổng hợp với 26 tháng tù của bản án số: 149/2022/HSST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 05 (năm) 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2024, nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2022 đến ngày 18/8/2022 của bản án số: 149/2022/HSST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
-
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trương Công T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.640.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
-
3 Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Thủy |
Bản án số 271/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 271/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trương Công T
