Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BẮC TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2024/HSST

Ngày 31/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phan Thị Thúy Hà – Giáo viên Trường THCS Minh Khai
  2. Bà Trần Thu Phương.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 267/2024/TLST-HS, ngày 11/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 271/2024/HSST-QĐ ngày 18/10/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Quang V, sinh ngày 22/12/2006 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú và cư trú: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên cha: Nguyễn Quang T; Sinh năm: 1976; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H; Sinh năm: 1979; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Tiền án, tiền sự: Không; D chỉ bản số 442 do Công an quận B lập ngày 17/7/2024; Bị bắt quả tang ngày 07/7/2024, tạm giữ từ ngày 08/7/2024 đến ngày 17/7/2024 huỷ bỏ tạm giữ; Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo V: Bà Nguyễn Thị H; Sinh năm: 1979; Nơi thường trú: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội; Là mẹ đẻ của bị cáo; Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Hữu M, Sinh ngày 28/8/2006, tại: Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi thường trú và cư trú: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên cha: Nguyễn Hữu H1; Sinh năm: 1984; Nghề nghiệp: Thợ xây tự do; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T1; Sinh năm: 1987; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án, tiền sự: Không; D chỉ bản số 441 do Công an quận B lập ngày 17/7/2024; Bị bắt quả tang ngày 07/7/2024, tạm giữ từ ngày 08/7/2024 đến ngày 17/7/2024 huỷ bỏ tạm giữ; Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo M: Ông Nguyễn Hữu H1; Sinh năm: 1984; Nơi thường trú: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội; Là bố đẻ của bị cáo; Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Nguyễn Thị V1, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Phạm Quang D1, sinh năm: 2004; Nơi thường trú: Thôn B, xã L, huyện T, TP .; Chỗ ở: TDP T, phường P, quận N, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H; Sinh năm: 1979; Nơi thường trú: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội; Là mẹ đẻ của bị cáo; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 20 giờ ngày 07/7/2024, bị cáo Nguyễn Quang V điều khiển xe máy Honda Vision màu trắng, BKS: 29AB-815.86 đến nhà em họ là bị cáo Nguyễn Hữu M và rủ M đi chơi phố ở Hà Nội. Khoảng 21 giờ 40 phút, khi đi đến cổng phụ Công viên H thuộc đường Đ, phường X, quận B, thành phố Hà Nội, phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu BOSSCITY màu trắng, mang BKS: 15AF-094.68 của anh Phạm Quang D1 để trước cổng không có người trông giữ, bị cáo V nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe nên bàn bạc với bị cáo M cùng trộm cắp để bán, lấy tiền chia nhau. Bị cáo M đồng ý. Bị cáo V bảo bị cáo M ngồi trên xe máy của bị cáo V đợi và cảnh giới, còn bị cáo V xuống xe, đi bộ tới áp sát chiếc xe của anh D1, dùng tay lắc nhẹ tay lái, thấy xe khoá cổ, liền cúi xuống tìm dây điện ổ khoá để rút giắc cắm. Khi bị cáo V đang rút giắc cắm để mở khoá điện của xe máy, tổ tuần tra Công an phường X phát hiện, bắt giữ quả tang các bị cáo cùng vật chứng. Vật chứng thu giữ của bị cáo V 01 xe máy nhãn hiệu BOSSCITY màu trắng, BKS: 15AF-094.68; 01 xe máy Honda Vision màu trắng, BKS: 29AB-815.86 và 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 15 Promax titan, gắn sim số thuê bao 0358505241, thu giữ của bị cáo M 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS màu vàng đã qua sử dụng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 425/KL-HĐĐGTS ngày 15/7/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 xe máy kiểu dáng Wave màu trắng nhãn hiệu BossCity, số khung: BRUML1000069; số máy MBT9SL200069, mua tháng 6/2020, đã qua sử dụng trị giá 4.500.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận: Ngoài vụ trộm cắp xe máy nêu trên, khoảng tháng 3/2024, hai bị cáo cùng nhau trộm cắp một xe máy hiệu Honda Wave màu đen (không nhớ biển kiểm soát) tại khu vực cổng phụ Công viên H. Bị cáo V đem xe bán cho một người không quen biết trên mạng xã hội với giá 5.000.000 đồng và chia cho bị cáo M 1.800.000 đồng. Cơ quan điều tra đã xác định trong tháng 3/2024 không có ai trình báo bị mất xe máy nhãn hiệu Honda Wave tại cổng phụ Công viên H và đăng thông báo trên B để tìm bị hại nhưng đến thời điểm xét xử không có ai trình báo, không thu giữ được vật chứng nên không có căn cứ để xử lý các bị cáo về hành vi trộm xe máy Honda Wave màu đen trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Phạm Quang D1 chiếc xe máy BOSSCITY màu trắng, BKS: 15AF-094.68 và anh D1 không có yêu cầu gì về dân sự.

Chiếc xe máy Honda Vision, BKS: 29AB-815.86, đăng ký ngày 14/5/2024, đứng tên bị cáo V. Bà H, mẹ của bị cáo V và bị cáo đều khẳng định là tài sản của bà H, bà H mua và nhờ bị cáo đứng tên vì bà H và ông T (bố bị cáo đều không biết chữ) bị cáo đang đi học, không có thu nhập. Bà H đề nghị Tòa án trả lại cho bà chiếc xe máy để bà và gia đình có phương tiện đi lại.

Tại Cáo trạng số 262/CT-VKSBTL ngày 07/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Hữu M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo V và bị cáo M với mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án; Giao các bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Trả lại cho bà H chiếc xe máy Honda Vision màu trắng, BKS: 29AB-815.86; Trả lại cho bị cáo V 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 15 Promax titan, gắn sim có số thuê bao: 0358505241, cho bị cáo M 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS màu vàng đã qua sử dụng.

* Người bào chữa cho các bị cáo: Nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng với các bị cáo. Các bị cáo phạm tội ở độ tuổi vị thành niên, nhận thức pháp luật và kiến thức xã hội còn chưa đầy đủ, chưa được sự quan tâm, dạy dỗ chu đáo của gia đình. Các bị cáo đang thực hiện hành vi phạm tội thì bị phát hiện, chưa chiếm đoạt được tài sản, nhận thức được hành vi vi phạm, có thái độ ăn năn, hối lỗi, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo với mức án khởi điểm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo đối với quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2]. Về tội danh, khung hình phạt:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Hồi 21 giờ 50 phút ngày 07/7/2024, tại khu vực cổng phụ Công viên H, trên đường Đ, phường X, quận B, thành phố Hà Nội, các bị cáo Nguyễn Quang V và Nguyễn Hữu M lợi dụng sơ hở của bị hại, lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu BOSSCITY màu trắng, mang BKS: 15AF-094.68 trị giá 4.500.000 đồng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt áp dụng với các bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội.

Trong vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, bị cáo V, khởi xướng việc trộm cắp, bị cáo M đồng ý và các bị cáo cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người thực hành.

[4]. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân

4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản, chưa gây thiệt hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo lần đầu thực hiện hành vi phạm tội, tội phạm bị cáo thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt

5.1. Về hình phạt chính: Các bị cáo phạm tội ở độ tuổi vị thành niên (Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo V ở độ tuổi 17 tuổi 06 tháng 15 ngày, bị cáo M ở độ tuổi 17 tuổi 10 tháng 09 ngày), khả năng nhận thức của các bị cáo về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội còn hạn chế. Một phần nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo phạm tội là chưa được sự quản lý và dạy dỗ đầy đủ của gia đình. Việc áp dụng hình phạt với các bị cáo ngoài mục đích trừng phạt, chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp các bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho xã hội. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng.

Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ nhân thân của các bị cáo thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, chỉ cần áp dụng Điều 65, 91 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo hưởng án treo, giao các bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

5.2. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đang ở tuổi vị thành niên, không có thu nhập, công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về các vấn đề khác

6.1. Về dân sự: Bị hại là anh D1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu các bị cáo bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

6.2. Về vật chứng: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, mang BKS: 29AB-815.86, Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo V, bị cáo đứng tên chủ sở hữu nhưng là tài sản của bà Nguyễn Thị Hòa M1 đẻ bị cáo, do bà H và ông T là cha mẹ bị cáo, không biết chữ, nhờ bị cáo đứng tên (thời điểm mua xe bị cáo là học sinh, chưa có thu nhập) không liên quan đến tội phạm, không có trong dữ liệu vật chứng. Bà H yêu cầu nhận lại xe nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại chiếc xe trên cho bà H. Cơ quan Công an còn thu giữ của bị cáo V 01 điện thoại Iphone 15 Promax titan, gắn sim có số thuê bao: 0358505241, thu giữ của bị cáo M 01 điện thoại di động Iphone XS màu vàng, các tài sản này là của các bị cáo, không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho các bị cáo.

6.3. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và mức án phí phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố cac bị cáo Nguyễn Quang V, Nguyễn Hữu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Các điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

3. Về hình phạt:

3.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

3.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu M 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú trong thời hạn thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

4. Các vấn đề khác:

4.1. Về vật chứng: Trả lại cho bà Nguyễn Thị H chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision mang biển kiểm soát 29AB-815.86 đăng ký tên chủ sở hữu là Nguyễn Quang V; Trả lại cho bị cáo V 01 điện thoại kiểu dáng Iphone 15 Promax titan, gắn sim có số thuê bao: 0358505241; Trả lại cho bị cáo M 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS màu vàng đã qua sử dụng. Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 28/25, ngày 30/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.

4.2. Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4.3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;.
  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q. Bắc Từ Liêm;
  • - Công an quận Bắc Từ Liêm;
  • - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm;
  • - Sở Tư pháp TP Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2024/HSST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 271/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 21 giờ 50 phút ngày 07/7/2024, tại khu vực cổng phụ Công viên H, trên đường Đ, phường X, quận B, thành phố Hà Nội, các bị cáo Nguyễn Quang V và Nguyễn Hữu M lợi dụng sơ hở của bị hại, lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu BOSSCITY màu trắng, mang BKS: 15AF-094.68 trị giá 4.500.000 đồng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger