TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 271/2024/HS-PT
Ngày: 19-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hậu.
Các Thẩm phán:
1/ Ông Trương Công Huấn.
2/ Bà Lê Thị Thương Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Huy Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Viễn Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 239/2024/HSPT ngày 16/7/2024 đối với bị cáo Lương Xuân H và đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo Lương Xuân H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HSST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Lương Xuân H, giới tính: nam; sinh năm 1976 tại tỉnh H; nơi đăng ký thường trú: C, Khu phố B, phường P, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Nhà không số, Khu phố S, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: tài xế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Con ông Lương Xuân H và con bà Trần Thị L; Vợ là Hồ Thị Ánh T và có 02 con, đứa lớn sinh năm 2008, đứa nhỏ sinh năm 2012; tiền án; tiền sự: không; Bị bắt, tạm giam từ ngày 05/5/2023 đến nay; có mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Quốc H1, Phạm Văn H2, Nguyễn Ánh T, Trần Văn B và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ, ông Võ Thành L và ông Phan Tuấn V, nhưng không kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 30 ngày 05/5/2023, Công an phường Phú Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra nhà số 21 G, phường P, Quận 7, lúc này trong nhà có mặt Nguyễn Quốc H1, Lương Xuân H và Phạm Văn H2. Công an phường P thu giữ 01 gói nylon để trên bàn và 01 gói nylon để trong hộp trên kệ trong phòng ngủ của Nguyễn Quốc H1, bên trong 02 gói nylon này đều chứa chất ma túy, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định: Vào ngày 25/4/2023, Phạm Văn H2 mua của Nguyễn Ánh T 200.000 đồng ma túy, T mang ma túy đến tại trước nhà số 21 G, phường P, Quận 7 giao và Hậu nhận ma túy xong mang vào Toilet nhà của Nguyễn Quốc H1 sử dụng. Lúc này Nguyễn Văn Đ và Lương Xuân H thấy H2 sử dụng ma túy thì xin cho sử dụng chung và H2 đồng ý cho Nguyễn Văn Đ và Lương Xuân H sử dụng ma túy.
Đến ngày 03/5/2023, Lương Xuân H và Phạm Văn H2 góp mỗi người 150.000 đồng để mua ma túy của Nguyễn Ánh T về sử dụng. H2 gọi điện thoại cho T mang ma túy đến nhà số 21 G, phường P, Quận 7 của Nguyễn Quốc H1 để giao và khi nhận ma túy xong thì H2 đem vào phòng khách nhà của H1 để sử dụng. Trong lúc H và H2 đang sử dụng ma túy thì Nguyễn Văn Đ đến nhà H1 chơi, thấy H và H2 đang sử dụng ma túy thì xin sử dụng. Khi H, H2 và Đ đang sử dụng ma túy thì Nguyễn Quốc H1 từ trên lầu đi xuống, thấy H1 xuống thì Huỳnh rủ H1 cùng sử dụng. Sau khi H, H2, Đ và H1 sử dụng ma tuý xong, số ma túy còn dư trong túi nylon thì H lấy đưa cho H1 cất giữ, số ma túy còn dư trong nỏ thuỷ tinh rơi trên bàn thì H1 lấy bịch nylon bỏ vào để hôm sau sử dụng.
Ngày 04/5/2023, Lương Xuân H cùng với Nguyễn Quốc H1 và Nguyễn Văn Đ tiếp tục sử dụng ma túy còn lại trong nỏ thuỷ tinh.
Lúc 11 giờ 30 ngày 05/5/2023, Công an phường P, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra hành chính nhà số 21 G, phường P, Quận 7 thì phát hiện, thu giữ 02 gói nilon chứa chất ma túy, loại Methamphetamine là số ma túy mà ngày 03/5/2023 Lương Xuân H, Nguyễn Quốc H1 và Phạm Văn H2 sử dụng còn lại. Tại thời điểm Công an đến kiểm tra, thu giữ ma túy thì có mặt Lương Xuân H, Nguyễn Quốc H1 và Phạm Văn H2 như đã nêu trên.
Mở rộng điều tra, vào lúc 17 giờ ngày 05/5/2023, tại hẻm 167 P, phường P, Quận 7, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma Túy, Công an Quận 7 bắt quả tang và thu giữ một gói nylon chứa ma túy để trong hộc chiếc xe mô tô Yamaha Luvias, biển số 59U1- 491.17 do Nguyễn Ánh T điều khiển. T là người sống chung như vợ chồng với Trần Văn B từ tháng 01/2022 cho đến ngày bị bắt và cùng ở tại nhà số 167/34 P, phường P, Quận 7. Từ tháng 01/2022 đến khoảng tháng 7/2022, T và B mua ma túy của T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) đem về chia nhỏ để bán cho các con nghiện và để sử dụng, đến tháng 8/2022 khi biết T1 bị bắt thì B liên hệ với người có tên (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy. Khoảng 3 hoặc 4 ngày một lần, T và B mua của U khoảng từ 900.000 đồng đến 1.200.000 đồng, chất ma túy, loại Methamphetamine. T và B phân nhỏ ra khoản từ 08 đến 12 gói, mỗi gói có giá bán từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng để bán cho các con nghiện. Vào lúc 11 giờ 30 ngày 05/5/2023, T mang theo gói ma túy, loại Methamphetamine đi bán nhưng chưa kịp bán bị Công an Quận 7 bắt quả tang, cùng với tang vật.
Kết quả khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại phòng số H trên gác lửng nhà số 167/34 P, phường P, Quận 7 thì Công an Quận 7 đã thu giữ được 11 gói nylon chứa tinh thể không màu và 09 dụng cụ sử dụng ma túy. T và B khai số ma tuý và dụng cụ sử dụng ma túy trên do T và B mua của U, để bán cho người nghiện. Trong quá trình T và B mua bán trái phép chất ma túy thì thu lợi được 800.000 đồng. Ngoài ra T còn khai vào ngày 25/4/2023, tại trước nhà số 21 G, phường P, Quận 7, T bán cho Phạm Văn H2 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng.
Kết quả test ma túy đối với Nguyễn Quốc H1, Lương Xuân H, Phạm Văn H2, Nguyễn Ánh T, Trần Văn B và Nguyễn Văn Đ đều dương tính với chất ma túy.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 ra Quyết định số 228, 229 /QĐ-CSĐT(HS) ngày 05/5/2023; Quyết định số 320/QĐ-CSĐT(HS) ngày 22/6/2023 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh (PC09) giám định mẫu vật thu giữ.
Tại Kết luận giám định 4738/KL-KTHS ngày 10/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh (PC09) kết luận: 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ánh T và hình dấu Công an phường Phú Mỹ, Quận 7, bên trong có:
- Gói 1: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon ký hiệu m1, trọng lượng 0,1987g, là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine.
- Gói 2: Tinh thể không màu trong 11 gói nylon ký hiệu m2, tổng trọng lượng 2,1890g, đều là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine.
Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định gồm:
- Gói 1: Tinh thể không màu (ký hiệu m1) có trọng lượng 0,1273g.
- Gói 2: Tinh thể không màu (ký hiệu m2) có trọng lượng 1,8338g.
Tại Kết luận giám định 4739/KL-KTHS ngày 10/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh (PC09) kết luận: 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Quốc H1 và hình dấu Công an phường Phú Thuận, Quận 7, bên trong có:
- 02 gói nylon, chứa tinh thể không màu ký hiệu m, trọng lượng 0,1679g, là ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine.
Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Tinh thể không màu có trọng lượng 0,1270g.
Tại Kết luận giám định 6795/KL-KTHS ngày 29/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh (PC09) kết luận:
- 01 khẩu súng ngắn không có số súng, ký hiệu số 1, là loại súng sử dụng khí nén bắn đạn bi, còn sử dụng được, không phải vũ khí quân dụng, thuộc nhóm đồ chơi nguy hiểm bị cấm.
- 05 viên bi kim loại, cùng cỡ 5,5 mm, ký hiệu số 2, có thể sử dụng làm đạn cho khẩu súng ngắn ký hiệu số 1.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Quận 7 thì Lương Xuân H, Phạm Văn H2, Nguyễn Quốc H1, Nguyễn Ánh T và Trần Văn B khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HSST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Lương Xuân H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Lương Xuân H phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/5/2023.
Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên xử phạt đối với các bị cáo Nguyễn Quốc H1, Phạm Văn H2, Nguyễn Ánh T và Trần Văn B; tuyên xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp; tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo và các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/6/2024 bị cáo Lương Xuân H làm đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lương Xuân H bổ sung kháng cáo yêu cầu xem xét lại tội “Tổ chức sử dụng trái chất ma túy”, vì bị cáo không góp tiền với bị cáo H2 để mua chất ma túy sử dụng vào ngày 03/5/2023, mà người góp tiền để mua ma túy sử dụng là Nguyễn Văn Đ, bị cáo được Nguyễn Văn Đ cho sử dụng ma túy, chứ bị cáo không cho Đ và H1 sử dụng ma túy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 16/6/2024 bị cáo Lương Xuân H làm đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo bổ sung xin xem xét lại tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo H, H1, H2, đối tượng Đ trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm thì các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Gói ma túy bị Công an thu giữ tại nhà bị cáo H1 là do bị cáo đưa cho bị cáo H1 cất giữ để các bị cáo sử dụng sau. Do đó, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử bị cáo Lương Xuân H về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới và không cung cấp tài liệu chứng cứ thê hiện bị cáo bị ép cung, nhục hình như bị cáo đã khai nên không có căn cứ để xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh.
Bị cáo tranh luận với đại diện Viện kiểm sát như sau: Bị cáo bị những người khác đuổi đánh thì bị cáo nhặt được cây súng tại nhà của bị cáo H1 để phòng vệ. Những người đó đi báo công an đến bắt bị cáo, sau đó Công an kiểm tra hành chính nhà của bị cáo H1 thì mới phát hiện thu giữ gói ma túy.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp với bị cáo như sau: Gói ma túy do bị cáo đưa cho bị cáo H1 cất giữ để hôm sau các bị cáo tiếp tục sử dụng. Bị cáo đã nhiều lần sử dụng ma túy với H2, H1 và Đ.
Bị cáo đối đáp với đại diện Viện kiểm sát như sau: Bị cáo chỉ sử dụng ma túy ngày 03/5/2023 chứ không sử dụng ma túy nhiều lần.
Đại diện Viện kiểm sát và bị cáo đều bảo lưu ý kiến tranh luận và không tranh luận vấn đề nào khác.
Trong lời nói sau cùng bị cáo yêu cầu tòa giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, còn về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thì yêu cầu tòa xem xét lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Lương Xuân H làm trong hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Căn cứ lời khai của bị cáo Lương Xuân H trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm; Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Quốc H1, bị cáo Phạm Văn H2, bị cáo Nguyễn Ánh T, lời khai của Nguyễn Văn Đ trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, cùng các chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được, có đủ căn cứ để xác định: Ngày 03/5/2023, bị cáo Lương Xuân H và bị cáo Phạm Văn H2 góp tiền để mua ma túy về sử dụng. Bị cáo Hậu gọi điện thoại cho Nguyễn Ánh T mang ma túy đến nhà số 21 G, phường P, Quận 7 để bán cho H2 và sau khi nhận ma túy thì bị cáo H2 đem vào nhà của bị cáo Nguyễn Quốc H1, rồi cùng bị cáo H sử dụng. Quá trình sử dụng ma túy tại đây thì bị cáo H và bị cáo H2 cho Nguyễn Văn Đ và bị cáo Nguyễn Quốc H1 cùng sử dụng chung. Sau khi sử dụng ma tuý xong, số ma túy còn dư trong túi nylon thì bị cáo H lấy đưa cho bị cáo H1 cất giữ, còn bị cáo H1 thì gom số ma túy rơi rớt trên bàn bỏ vào túi nylon khác cất giữ, để hôm sau sử dụng tiếp.
Ngày 04/5/2023, bị cáo Lương Xuân H, bị cáo Nguyễn Quốc H1 và Nguyễn Văn Đ tiếp tục sử dụng ma túy còn lại trong nỏ thuỷ tinh mà ngày 03/5/2023 các bị cáo sử dụng chưa hết. Số ma túy còn lại trong túi nylon mà ngày 03/5/2023 bị cáo Huỳnh lấy đưa cho bị cáo H1 cất giữ thì bị Công an phường Phú Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ vào lúc 11 giờ 30 ngày 05/5/2023. Theo Kết luận giám định số 4739/KL-KTHS ngày 10/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an Thành phố Hồ Chí Minh (PC09) thì số ma túy mà Công an Quận 7 thu giữ trên có khối lượng là 0,1679g, loại Methamphetamine.
Do đó, tòa án sơ thẩm xét xử và kết tội bị cáo Lương Xuân H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật này là có căn cứ, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện mà còn gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng và xử phạt bị cáo 01 năm tù, là mức án thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới và quá trình tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm không phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới, nên không có căn cứ để giảm án cho bị cáo.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Quá trình điều tra thì bị cáo khai nhận vào ngày 03/5/2023 bị cáo có hùn 150.000 đồng để Phạm Văn H2 mua ma túy về sử dụng và trong lúc sử dụng thì bị cáo có cho Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Quốc H1 sử dụng chung. Số ma túy sử dụng vào ngày 03/5/3023 còn dư thì bị cáo lấy đưa cho Nguyễn Quốc H1 cất giữ và ngày 04/5/2023 tại nhà của Nguyễn Quốc H1 thì bị cáo cùng với H1 và Đ cùng sử dụng ma túy còn sót trong nỏ mà ngày 03/5/2023 đã sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm Nguyễn Quốc H1, Phạm Văn H2 và Nguyễn Văn Đ cũng khai nhận như vậy. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai ngày 03/5/2023 Nguyễn Văn Đ hùn tiền với Phạm Văn H2 mua ma túy về nhà Nguyễn Quốc H1 sử dụng và bị cáo được Nguyễn Văn Đ cho sử dụng ma túy, còn ngày 04/5/2023 thì bị cáo không sử dụng ma túy cùng với H1 và Đ. Nhưng bị cáo không cung cấp chứng cứ để chứng minh cho lời khai này là có căn cứ và quá trình tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm cũng không phát sinh tình tiết nào làm thay đổi nội dung vụ án, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo này của bị cáo.
Nhận định trên cũng là lập luận của Hội đồng xét xử để chấp nhận toàn bộ quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Xuân H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HSST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Bị cáo Lương Xuân H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lương Xuân H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/5/2023.
Về án phí: Bị cáo Lương Xuân H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hậu |
Bản án số 271/2024/HS-PT ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 271/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LƯƠNG XUÂN HUỲNH PHẠM TỘI "TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY" VÀ "TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY"
