Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 271/2024/HS-PT

Ngày: 17 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám

Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười

Ông Nguyễn Văn Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thuý - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 979/2023/TLPT-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Trọng H do có kháng cáo của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 260/2023/HS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Trọng H, sinh ngày 26 tháng 11 năm 1983 tại Kon Tum. Nơi cư trú: Số D đường A, Khu phố E, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nguyên Điều tra viên; cha là Nguyễn Văn H1 và mẹ là Bùi Thị X; bị cáo có vợ tên Tô Hoàng Mỹ T (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo, (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

  1. Ông Nguyễn Công T1. Địa chỉ: Số B ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  2. Ông Nguyễn Thành H2. Địa chỉ: Số H đường số D, Tổ C, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Ông Võ Văn T2. Địa chỉ: Số A đường số B, Tổ G, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

  1. Luật sư Phạm Trọng Ê là người bảo vệ cho ông Nguyễn Thành H2 và ông Võ Văn T2.
  2. Luật sư Đinh Thái H3 là người bảo vệ cho ông Nguyễn Công T1.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo: Ông Hà Thành V, sinh ngày 22/01/1989. Địa chỉ: Số A đường L, Khu phố A phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Trọng H là Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận T được phân công thụ lý vụ án “Cưỡng đoạt tài sản” xảy ra trên địa bàn quận T (nay là TP T). Trong quá trình điều tra vụ án này, bị cáo có hành vi nhận tiền của Nguyễn Công T1 là bị can trong vụ án. Cụ thể như sau:

Ngày 06/5/2019, Nguyễn Công T1, Nguyễn Thành H2, Võ Văn T2 bị Công an quận T mời về trụ sở làm việc do có nghi ngờ liên quan đến vụ “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngày 13/5/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với T1, H2, T2 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với các bị can. Bị cáo là người được phân công thụ lý vụ án trên. Khoảng 01 tháng sau khi khởi tố vụ án “Cưỡng đoạt tài sản”, Hà Thành V cán bộ công an T hẹn T1, H2, T2 đến quán cà phê G (địa chỉ: Số A, đường số G, phường L, quận T) để gặp bị cáo. Tại đây, bị cáo nói riêng với T1 “Về bàn bạc với tụi kia đưa cho tao 50.000.000 đồng trước để tao lo cho tụi bay được ở ngoài, không bị bắt nhốt trở lại”. Sau đó, T1 nói lại với H2, T2 nhưng cả hai đều nói không có tiền. Đến khoảng tháng 7/2019, T1 mượn của mẹ ruột là bà Đặng Thị C được 50.000.000 đồng và gặp bị cáo tại phòng Hoa Giấy, quán Ầ (địa chỉ: Số E Đ, phường B, quận T) đưa cho bị cáo số tiền 50 triệu đồng. Một thời gian sau T1 gọi điện hỏi bị cáo thì bị cáo nói với T1 liên lạc với Hà Thành V để được báo giá chính xác, T1 được V thông báo phải đưa thêm số tiền 180 triệu đồng. Do Nguyễn Công T1 nghi ngờ bị cáo, V lừa nên trong quá trình liên lạc với bị cáo và Hà Thành V thì T1 đã ghi âm lại nội dung trao đổi.

Đến ngày 31/10/2019, Nguyễn Công T1 đã làm đơn tố cáo bị cáo và Hà Thành V và giao USB chứa file ghi âm đến Cục điều tra – Viện kiểm sát nhân dân tối cao, sau đó Cục điều tra chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố H thụ lý.

Kết luận giám định số 5166/C09B ngày 18/11/2019 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định nội dung trao đổi trong file ghi âm chứa trong USB là giọng của Nguyễn Công T1, Nguyễn Trọng H và Hà Thành V. Trong đó có đoạn hội thoại giữa Nguyễn Công T1 và Nguyễn Trọng H liên quan đến số tiền 50.000.000 đồng. Quá trình điều tra bổ sung, cơ quan cảnh sát điều tra công an Thành phố H đã tiến hành thu giữ phương tiện điện thoại, dữ liệu điện tử và tiến hành giám định các dữ liệu điện tử đó theo đúng quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự. Nội dung kết luận giám định số 3285/KL-KTHS ngày 22/7/2022 của V1 (C09B), Bộ C1 trùng khớp với nội dung tại các kết luận giám định số 5166/C09B ngày 18/11/2019 và số 1130/C09B ngày 31/3/2020 của V1 (C09B), Bộ C1.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 260/2023/HS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 354, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt Nguyễn Trọng H 02 năm tù về tội “Nhận hối lộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự:

Buộc Nguyễn Trọng H nộp lại số tiền 50.000.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước

Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án đối với 02 chiếc điện thoại thu của Nguyễn Công T1.

Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 15/6/2023, bị cáo Nguyễn Trọng H có đơn kháng cáo kêu oan, đề nghị xem xét lại toàn bộ vụ án.

Ngày 15/6/2023, ông Nguyễn Công T1 yêu cầu xem xét lại tư cách tham gia tố tụng của ông, xem xét lại tội danh đối với bị cáo H, yêu cầu bị cáo H trả 50.000.000đ; yêu cầu được nhận lại 02 điện thoại.

Ngày 15/6/2023, ông Võ Minh T3 và Nguyễn Thành H2, yêu cầu xét xử bị cáo H về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; yêu cầu xem xét hành vi đòi tiền của Hà Thành V; chưa xem xét làm rõ số tiền 14.500.000₫ của ông T1 khi bị công an quận T bắt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo kêu oan, bị cáo không có nhận tiền của Nguyễn Công T1, việc T1 tố cáo nhằm trốn tránh hành vi cưỡng đoạt tài sản đang bị điều tra, việc thu thập tài liệu giám định không đúng trình tự.
  • Tại đơn xin xét xử vắng mặt của ông Nguyễn Công T1, ông Võ Minh T3 và Nguyễn Thành H2 yêu cầu xét xử như đơn kháng cáo.
  • Luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông Nguyễn Công T1, trình bày: Yêu cầu xem xét lại tội danh của bị cáo và tư cách tham gia tố tụng của ông T1, bị cáo ép buộc ông T1 đưa tiền nên buộc bị cáo trả lại cho ông T1 50.000.000đ; Cơ quan điều tra yêu cầu ông Tâm giao n 02 điện thoại để phục vụ việc giám định, nay đã giám định xong nên yêu cầu cho T1 nhận lại.
  • Luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông Võ Minh T3 và Nguyễn Thành H2, trình bày: Yêu cầu huỷ án sơ thẩm vì cấp sơ thẩm xác định không đúng tội danh của bị cáo H, chưa xem xét hành vi môi giới hối lộ của Hà Thành V; chưa xem xét số tiền Cơ quan điều tra công an quận T thu của Nguyễn Công T1 là 14.500.000đ.
  • Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Công T1 yêu cầu được nhận lại 02 chiếc điện thoại, sửa 1 phần bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ có kháng cáo và Luật sư bảo vệ quyền lợi cho người kháng cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt họ.
  2. [2]. Về nội dung: Tháng 05 năm 2019, bị cáo Nguyễn Trọng H nguyên là điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận T (nay là TP T), được phân công thụ lý vụ án Nguyễn Công T1 và đồng phạm bị khởi tố về tội Cưỡng đoạt tài sản. Ngày 31/10/2019, việc ông Nguyễn Công T1 có đơn tố cáo đến Cục điều tra – Viện kiểm sát nhân dân tối cao là có xảy ra trên thực tế.
  3. [3]. Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Trọng H và nội dung đề nghị thay đổi tội danh đối với bị cáo của ông Nguyễn Công t, Nguyễn Thành H2, Võ Minh T3, Hội đồng xét xử thấy rằng:
    1. [3.1]. Tại phiên phúc thẩm cũng như trong giai đoạn điều tra, bị cáo Nguyễn Trọng H không thừa nhận có nhận tiền của ông T1 nhưng căn cứ vào Kết luận giám định số 5166/C09B ngày 18/11/2019 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định nội dung trao đổi trong file ghi âm chứa trong USB được dịch lại tại Kết luận giám định số 3285/KL-KTHS ngày 22/7/2022 của V1 (C09B), Bộ C1 xác định giọng nói được ghi âm trong 02 điện thoại có ký hiệu “Ttel” và “CoGo”, thể hiện: Tiếng nói người nam được gọi là anh H ( ký hiệu “Huệ” trong “Bản dịch nội dung") trong các file âm thanh mẫu cần giám định và “tiếng nói của ông Nguyễn Trọng H trong mẫu so sánh là của cùng một người”. Tại bản dịch nội dung của Kết luận giám định có thể hiện: “ Bây giờ em hỏi nè, giống như bữa hồm em gửi anh năm mươi triệu tiền đó, thì bây giờ sau này anh nói bao nhiêu em sẽ gửi thêm cho anh, anh cứ yên tâm vấn đề đó.....Biết rồi, cái đó bữa nói rồi, cái đó tôi hông muốn nhận mà tự nhiên cứ ép vậy giờ nói gì ông, còn nguyên đây nè. Còn muốn lấy lại đưa luôn.”. Như vậy, có căn cứ xác định bị cáo H là người có chức vụ, trong lúc làm nhiệm vụ điều tra vụ án Cưỡng đoạt tài sản nêu trên có nhận 50.000.000₫ của ông Nguyễn Công T1 nên Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội Nhận hối lộ quy định tại Điều 354 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật nên không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo. Việc có bắt tạm giam ông T1, ông H2, ông T3 hay không thì không thuộc thẩm quyền của bị cáo, bị cáo không làm trái công vụ nên không có căn cứ thay đổi tội danh từ tội Tham ô tài sản sang tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ đối với bị cáo.
    2. [3.2]. Ông Nguyễn Công T1 cho rằng bị cáo H đòi ông T1 phải đưa tiền để không bị bắt tạm giam, tuy nhiên quá trình điều tra không có chứng cứ chứng minh bị cáo H có hành vi đòi tiền ông T1 như ông T1 tố cáo, trong khi tại tin nhắn do ông T1 cung cấp cho Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 22/11/2019 (bút lục 76 trong hồ sơ) thể hiện: “ lúc nãy em gởi cho anh chỉ là tiền xăng với nước thôi”, tin nhắn của ông T1 nêu trên phù hợp với Bản dịch của nội dung trong Kết luận giám định thể hiện bị cáo H chỉ xác định: “Biết rồi, cái đó bữa nói rồi, cái đó tôi hông muốn nhận mà tự nhiên cứ ép vậy giờ nói gì ông, còn nguyên đây nè. Còn muốn lấy lại đưa luôn.”. Như vậy, ông T1 tự nguyện đưa cho bị cáo số tiền 50.000.000đ để nhờ bị cáo không đề xuất bắt tạm giam ông T1 nên Bản án sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 354 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo là có căn cứ và không trả lại cho ông T1 số tiền ông T1 đã đưa hối lộ là phù hợp quy định của pháp luật nên không chấp nhận kháng cáo của ông T1 yêu cầu bị cáo phải trả lại cho ông 50.000.000đ. Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù là ở mức khởi điểm của khung hình phạt là có xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
    3. [3.3]. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Công T1 yêu cầu được nhận lại 02 điện thoại đã giao nộp theo yêu cầu của Cơ quan điều tra để phục vụ việc giám định hiện đã có Kết luận giám định nên không cần thiết lưu hồ sơ vụ án đối với 02 chiếc điện thoại thu của Nguyễn Công T1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông T1 nhận lại 02 điện thoại đã giao nộp.
    4. [3.4]. Ông Nguyễn Thành H2 và ông Võ Minh T3 còn kháng cáo yêu cầu xem xét hành vi đòi tiền của ông Hà Thành V và số tiền cơ quan điều tra quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ của ông T1 là 14.500.000đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Toà án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng quá trình điều tra bổ sung Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xác định không đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với Hà Thành V. Đối với số tiền 14.500.000₫ không thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án này.
  4. [3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Trọng H và ông Võ Minh T3, ông Nguyễn Thành H2 kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu 200.000 đồng. Ông Nguyễn Công T1 kháng cáo được chấp nhận một phần nên không chịu án phí.
  5. [4]. Như đã phân tích, lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Toà án nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm d khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng H, của ông Võ Minh T3, Nguyễn Thành H2; Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Công T1.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 260/2023/HS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về xử lý vật chứng.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H, phạm tội “Nhận hối lộ”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 354; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H, 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án

  3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    1. Buộc bị cáo Nguyễn Trọng H nộp lại số tiền 50.000.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    2. Ông Nguyễn Công T1 được nhận lại 02 chiếc điện thoại đã giao nộp tại Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 31 tháng 5 năm 2022 của cơ quan cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H (hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án).
  4. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Trọng H, ông Võ Minh T3, ông Nguyễn Thành H2 mỗi người phải chịu 200.000 đồng.
  5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam TP. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - NLQ
  • - Lưu: HS, VP, 20bBDQK.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Tám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2024/HS-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tội nhận hối lộ)

  • Số bản án: 271/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Nhận hối lộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng H nhận hối lộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger