Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2024/HS-ST

Ngày 11-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Nam Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Võ Hoàng Thu.
  • 2/ Ông Lê Trung .

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 313/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 295/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Mai Khắc Đ, sinh năm 1989 tại tỉnh Long An; giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Mai Văn R và bà Đặng Thị T; bị cáo có vợ (không đăng ký kết hôn), có 01 con sinh năm 2016.
  2. Tiền sự: không.

    Tiền án: Ngày 30/11/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 186/2021/HS-ST. Ngày chấp hành xong án phạt tù từ 24/11/2022, chưa xóa án tích.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/10/2023 đến nay.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Đặng Thanh T1, sinh năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: 2218 Quốc lộ A, tổ C, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Đặng Thanh S và bà Lâm Ngọc Bích T2; bị cáo chưa có vợ, con.
  4. Tiền sự: không.

    Tiền án: Ngày 15/9/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xử phạt 1 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 35/2022/HS-ST. Ngày chấp hành án xong án phạt tù 01/6/2023, chưa xóa án tích.

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/10/2023 đến nay.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  • - Ông Trần Ngọc N, sinh năm: 1992. (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: 2 tổ A, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Phạm Lê Minh C, sinh năm: 1996. (Vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
  • Địa chỉ: T Ấp G, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
  • - Bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm: 1994. (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 25/9/2023, Đặng Thanh T1 điều khiển xe máy hiệu Exciter, gắn biển số giả 59S2-230.59 chở Mai Khắc Đ đi câu cá. Khi đến trước Nhà máy X tập trung Khu công nghiệp L, Đường số A, Khu công nghiệp L thuộc ấp A, xã T, huyện B thì T1 thấy xe máy hiệu SH Mode biển số 49K1-264.34 của ông Trần Ngọc N đậu trong sân, trên xe có cắm sẵn chìa khóa, không có người trông coi xe. T1 nảy ý định lấy trộm chiếc xe để bán lấy tiền tiêu xài nên rủ Đ lấy trộm xe thì Đ đồng ý. T1 điều khiển xe Exciter chở Đ ngồi sau đi vào trong sân của nhà máy X, dừng xe kế bên xe máy SH Mode biển số 49K1-264.34. Đ xuống xe đi đến bên trái xe SH Mode, dùng tay trái nắm lấy tay lái phía trước bên trái xe, tay phải nắm vào càng phía sau xe quay xe lại. T1 đứng cảnh giới cho Đ lấy xe. Sau đó, Đ ngồi lên xe, dùng tay phải mở chìa khóa xe rồi điều khiển xe rời khỏi hiện trường. T1 điều khiển xe máy Exciter gắn biển số 59S2-230.59 đi trước, Đ điều khiển xe máy SH Mode biển số 49K1-264.34 đi sau. Cả hai đi được một đoạn thì không thấy ai đuổi theo nên dừng lại đổi xe cho nhau (Đ điều khiển xe SH Mode, T1 điều khiển xe Exciter).

Trên đường đi, T1 điện thoại cho Nguyễn Văn L qua số điện 0972.522.909 để hỏi cầm xe máy SH Mode, L đồng ý rồi hẹn T1 gặp nhau tại bãi giữ xe của Khu đô thị P thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. T1 và Đ tiếp tục đi đến gần khu vực bãi giữ xe của Khu đô thị P thì Đ đứng bên ngoài đợi, T1 tiếp tục điều khiển xe SH Mode vào trong bãi giữ xe. Thiên mở cốp xe SH Mode thì thấy bên trong cốp có giấy đăng ký xe mang tên Trần Thị T3. Một lúc sau, Nguyễn Văn L (chồng của bà Nguyễn Thị Ngọc P – chủ tiệm cầm đồ Đức T4) đi đến bãi xe gặp T1, sau khi xem xe thì L nói giá cầm xe được 10.000.000 đồng, T1 đồng ý. L đưa cho T1 8.000.000 đồng, còn 2.000.000 đồng Thiên trả cho L do trước đó T1 có nợ tiền L. Thiên giao chìa khóa xe và giấy đăng ký xe cho L. Sau đó, T1 và Đ đi về nhà bạn gái T1 tại nhà không số, ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. T1 và Đ đi vào nhà rồi Thiên chia cho Đ 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Để Công an không phát hiện nên T1 và Đ lấy quần áo mặc khi đi trộm cắp vứt hết vào thùng rác trước nhà. Còn T1 tháo biển số 59S2-230.59 ra vứt sọt rác và gắn lại biển số 93C1- 135.96 vào xe. Sau đó, T1 đến tiệm cầm đồ Đức T4 gặp P lập phiếu cầm xe và lấy thêm 5.000.000 đồng. Tiền cầm xe T1 và Đ đã tiêu xài hết.

Khoảng 10 giờ 15 cùng ngày, ông Trần Ngọc Nguyên phát H1 mất xe máy hiệu SH Mode biển số 49K1-264.34. Kiểm tra camera của công ty, ông Trần Ngọc N thấy hai thanh niên, một người điều khiển xe Exciter màu xanh và một người điều khiển xe SH Mode của ông ra khỏi cổng nhà máy. Nên ông Trần Ngọc N đến Công an xã T, huyện B để trình báo vụ việc.

Theo Kết luận định giá tài sản số 3061/KL-HĐĐGTS ngày 19/10/2023 của hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự định giá tài sản 01 xe máy BS 49K1- 264.34, nhãn hiệu Honda loại SH Mode, có giá trị còn lại là 27.500.000 đồng.

Qua truy xét, Cơ quan điều tra bắt giữ Mai Khắc Đ và Đặng Thanh T1. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, T1 và Đ khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

Vật chứng vụ án:

  1. 01 xe máy hiệu SH mode biển số 49K1-264.34 có số máy: JF51E0082919, số khung: F5107DY082783;
  2. 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng;
  3. 01 xe nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số 93C1-135.96, số khung RLCU0610HY433023, số máy G3D4E453534;
  4. 01 nón bảo hiểm màu đen - xám;
  5. 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S số seri R58M788RFRY, imel 35796610780779 thu giữ của Mai Khắc Đ;
  6. 03 USB ghi nhận vụ việc (lưu kèm hồ sơ vụ án);

Số vật chứng từ (3) – (5) Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã ra Quyết định chuyển vật chứng đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh tạm giữ chờ xử lý.

Về dân sự:

  • - Bị hại ông Trần Ngọc N đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không có yêu cầu bồi thường dân sự.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Lê Minh C trình bày: xe nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số 93C1-135.96 do anh đứng tên chủ sở hữu, năm 2020, người bạn tên P1 (không rõ lai lịch) mượn đi du lịch ở thành phố V thì bị mất trộm nhưng không đi trình báo công an, sau đó P1 có bồi thường cho anh C số tiền 5.000.000 đồng rồi bỏ đi đâu không rõ, anh C yêu cầu được nhận lại xe trên.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị Ngọc P không có ý kiến gì đối với số tiền 15.000.000 đồng đã cầm xe máy hiệu SH mode biển số 49K1-264.34.

Tại bản cáo trạng số: 296/CT-VKSBC ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Mai Khắc Đ và Đặng Thanh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa,

  • - Bị cáo Đ khai: mục đích cùng bị cáo T1 đi đến xã T, huyện B là để câu cá, dụng cụ câu cá sẽ mua trên đường đi và lúc bị cáo T1 điều khiển xe chở bị cáo ngồi sau thì bị cáo đã vứt bỏ dụng cụ câu cá. Khi T1 chạy xe ngang qua Nhà máy xử lý nước thải tập trung Khu công nghiệp L, Đường số A, Khu công nghiệp L thuộc ấp A, xã T, huyện B (chỉ chạy qua một lần) thì T1 thấy xe máy hiệu SH Mode biển số 49K1-264.34 đậu trong sân, trên xe có cắm sẵn chìa khóa, không có người trông coi xe nên T1 rủ bị cáo vào lấy trộm. Diễn biến hành vi trộm tiếp theo thì đúng như cáo trạng nêu. Trên đường đi hai bị cáo đổi xe cho nhau, về đến nhà các bị cáo thay đổi quần áo, thay đổi biển số xe là để tránh bị công an phát hiện đặc điểm nhận dạng.
  • - Bị cáo T1 khai: mục đích cùng bị cáo Đ đi đến xã T, huyện B là để câu cá, dụng cụ câu cá do bị cáo đem theo gồm 4 cần câu (có 1 cần được tặng và 03 cần khác bị cáo mua), lúc thực hiện hành vi trộm cắp bị cáo không để ý là bộ dụng cụ câu cá này đã để thất lạc ở đâu. Khi bị cáo chạy xe ngang qua Nhà máy xử lý nước thải tập trung Khu công nghiệp L, Đường số A, Khu công nghiệp L thuộc ấp A, xã T, huyện B (chỉ chạy qua một lần) thì bị cáo thấy xe máy hiệu SH Mode biển số 49K1-264.34 đậu trong sân, trên xe có cắm sẵn chìa khóa, không có người trông coi xe nên bị cáo rủ Đ vào lấy trộm. Diễn biến hành vi trộm tiếp theo thì đúng như cáo trạng nêu. Trên đường đi hai bị cáo đổi xe cho nhau, về đến nhà bạn gái bị cáo thì các bị cáo thay đổi quần áo, thay đổi biển số xe để tránh bị công an phát hiện đặc điểm nhận dạng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Mai Khắc Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Đặng Thanh T1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản".

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 nón bảo hiểm màu đen – xám; tịch thu và nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S số seri R58M788RFRY, imel 35796610780779 thu giữ của Mai Khắc Đ; ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả 01 xe máy hiệu SH mode biển số 49K1-264.34 cho ông Trần Ngọc N, đã trả 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng cho bà Lê Hoàng Mai T5; tiếp tục lưu trữ 03 USB ghi nhận vụ việc; đối với xe nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số 93C1-135.96 đề nghị HĐXX trả lại xe cho ông Phạm Lê Minh C.

Ghi nhận bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.

Ghi nhận người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc P không có ý kiến gì đối với số tiền 15.000.000 đồng đã cầm xe máy hiệu SH mode biển số 49K1-264.34.

Các bị cáo Mai Khắc Đ và Đặng Thanh T1 khai nhận hành vi như trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét: Ông Trần Ngọc N là bị hại trong vụ án và bà Nguyễn Thị Ngọc P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và sự vắng mặt của ông N, bà P không gây trở ngại, ảnh hưởng cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo trình tự, thủ tục chung của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Xét thấy lời khai tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đủ cơ sở xác định vào ngày 25/9/2023, Mai Khắc Đ và Đặng Thanh T1 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe máy hiệu SH mode biển số 49K1-264.34 có số máy: JF51E0082919, số khung: F5107DY082783 của ông Trần Ngọc N trước nhà máy X tập trung Khu công nghiệp L, Đường số A, Khu công nghiệp L thuộc ấp A, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có nêu trên, các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì tham lam, vụ lợi, muốn có tiền nhưng không chịu lao động đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. Tài sản các bị cáo chiếm đoạt của bị hại mang đi bán lấy tiền qua định giá là 27.500.000 đồng (hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

[4] Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Mai Khắc Đ1 và Đặng Thanh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trong vụ án này các bị cáo cùng nhau phạm tội (đồng phạm giản đơn), bị cáo T1 là người rủ rê, bị cáo Đ là người thực hiện hành vi. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai và Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

* Về tình tiết tăng nặng:

  • - Ngày 30/11/2021 bị cáo Mai Khắc Đ bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 186/2021/HS-ST. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù từ ngày 24/11/2022, bị cáo chưa được xóa án tích.
  • - Ngày 15/9/2022, bị cáo Đặng Thanh T1 Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 35/2022/HS-ST. Bị cáo chấp hành án xong án phạt tù ngày 01/6/2023, bị cáo chưa được chưa xóa án tích.

Như vậy tính đến lần phạm tội này các bị cáo chưa được xóa án tích đối với các bản án nêu trên mà lại cố ý thực hiện tội phạm, thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi trộm cắp tài sản (phù hợp với camera an ninh đường phố và của người dân ghi lại); tuy nhiên tại phiên tòa, các bị cáo không thành khẩn khai báo, khi Hội đồng xét xử cách ly, xét hỏi từng bị cáo thì bị cáo Đ và bị cáo T1 có lời khai mâu thuẫn về: “cùng rủ nhau đi câu nhưng ai là người chuẩn bị cần câu, mồi câu; tại sao hình ảnh camera không ghi nhận các bị cáo mang theo dụng cụ câu cá; cũng như không trả lời được câu hỏi vì sao đi câu cá lại phát hiện, thấy xe máy hiệu SH Mode biển số 49K1-264.34 đậu trong sân khuôn viên Nhà máy xử lý nước thải tập trung Khu công nghiệp L, trên xe có cắm sẵn chìa khóa...”. Như vậy, các bị cáo đã không thành thật khai báo về mục đích khi cả hai chở nhau đi đến địa bàn xã T, huyện B vào sáng 25/9/2023; do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” cho các bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: đối với tội “Trộm cắp tài sản” các bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhưng xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình của các bị cáo khó khăn, các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 xe máy hiệu SH mode biển số 49K1-264.34 có số máy: JF51E0082919, số khung: F5107DY082783. Qua xác minh được biết xe máy trên do bà Trần Thị T3, sinh năm: 1965, HKTT: 419 P, L, B, Lâm Đồng đứng tên chủ sở hữu xe. Qua làm việc ghi lời khai bà Trần Thị T3 được biết: Ngày 30/7/2022, bà T3 có tặng xe máy trên cho ông Trần Ngọc N (con rể bà T3) để đi lại và bà T3 có viết giấy tay cho tặng xe máy trên cho ông N. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Trần Ngọc N nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng. Qua xác minh được biết điện thoại trên là của chị Lê Hoàng Mai T5, sinh năm: 1998, HKTT: 44B đường G Hồ N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua làm việc với chị T5 được biết: Chị T5 là bạn gái của T1. Do điện thoại của T1 bị hư nên khoảng tháng 9/2023 chị T5 có đưa 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs màu vàng của chị T5 cho Thiên mượn để sử dụng liên lạc với chị T5 và gia đình. Cơ quan điều tra trả lại cho T5 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  • - 01 xe nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số 93C1-135.96, số khung RLCU0610HY433023, số máy G3D4E453534. Qua xác minh xe máy trên do anh Phạm Lê Minh C, sinh năm: 1996, HKTT: T2/ Ấp G, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước đứng tên chủ sở hữu. Anh C cho biết: năm 2020, người bạn tên P1 (không rõ lai lịch) mượn đi du lịch ở thành phố V thì bị mất trộm nhưng không đi trình báo công an, sau đó P1 có bồi thường cho anh C số tiền 5.000.000 đồng rồi bỏ đi đâu không rõ, anh C yêu cầu được nhận lại xe trên. Xét anh Phạm Lê Minh C đang là người chủ sở hữu hợp pháp của xe trên nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại xe cho anh C. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với chiếc xe này thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
  • - 01 nón bảo hiểm màu đen – xám thu giữ của bị cáo Đ, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 của Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S số seri R58M788RFRY, imel 35796610780779 thu giữ của Mai Khắc Đ, Đ khai nhận sử dụng để làm phương tiện liên lạc với T1 để cùng đi đến nơi thực hiện hành vi trộm cắp nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - 03 USB ghi nhận vụ việc tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án.

[8] Đối với Nguyễn Văn L, qua xác minh không có mặt tại địa phương Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B điều tra đã ra Quyết định truy tìm do chỉ có lời khai của Đặng Thanh T1 nên chưa đủ căn cứ khởi tố đối với L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.

[9] Đối với Nguyễn Thị Ngọc P không biết tài sản là do T1 phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[11] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc P chưa có yêu cầu gì đối với số tiền cầm xe đã đưa cho bị cáo T1 nên Hội đồng xét xử không xem xét. Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự nếu bà P có yêu cầu gì đối với số tiền 15.000.000 đồng cầm xe máy hiệu SH mode biển số 49K1-264.34 đã đưa cho bị cáo T1 thì sẽ được giải quyết trong vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự.

[12] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[13] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, cũng như xử lý vật chứng vụ án; như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt; Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo Đ cao hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  2. Xử phạt bị cáo Mai Tuấn Đ2 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 21/10/2023.

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  4. Xử phạt bị cáo Đặng Thanh T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 21/10/2023.

  5. Về vật chứng xử lý: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
    • Tịch thu và tiêu hủy: 01 nón bảo hiểm màu đen – xám.
    • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A3S số seri R58M788RFRY, imel 35796610780779.
    • Trả lại cho anh Phạm Lê Minh C: 01 xe nhãn hiệu Yamaha loại Exciter biển số 93C1-135.96, số khung RLCU0610HY433023, số máy G3D4E453534. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với chiếc xe này thì giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự.
    • (Các vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao nhận tang tài vật ngày 09/10/2024 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh).
  6. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại ông Trần Ngọc N không yêu cầu bồi thường dân sự. Ghi nhận người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc P không có ý kiến gì đối với số tiền 15.000.000 đồng đã cầm xe máy hiệu SH mode biển số 49K1-264.34; trường hợp, bà P có yêu cầu gì đối với số tiền này thì sẽ được giải quyết trong vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự.
  7. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  8. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  9. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  10. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm Lê Minh C được quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

    Bị hại ông Trần Ngọc N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật;

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ngọc P được quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Bình Chánh;
  • - Công an H. Bình Chánh;
  • - Chi cục thi hành án dân sự H. Bình Chánh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA TP.HCM;
  • - Sở tư pháp TP.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, Đương sự;
  • - Lưu hs.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Tạ Nam Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 271/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Mai TĐ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 21/10/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger