Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 271/2024/DS-ST

Ngày: 31 - 7 - 2024

V/v: Tranh chấp hợp tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Thanh Tùng.
  2. Bà Thái Thục Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân– Kiểm sát viên.

Vào ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 225/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024, về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 120/2024/QÐST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.

    Địa chỉ: Số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Gia T (Đại diện theo Giấy ủy quyền số 5343/2023/UQ-TGĐ ngày 28/12/2023) (Vắng mặt và đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Ái T1, sinh năm 1993.

    Địa chỉ: Số D đường N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S có ông Trần Gia T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 21/5/2019, bà Nguyễn Ái T1 có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng). Căn cứ vào thu nhập của bà Nguyễn Ái T1, Ngân hàng TMCP S đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Platinum số thẻ 436438 – 7793 với hạn mức sử dụng là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,48%/tháng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Nguyễn Ái T1 bắt đầu kích hoạt và sử dụng thẻ từ ngày 21/5/2019, đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 405.199.174 đồng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Bà T1 phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 402.800.849 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
  • + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
  • + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
  • + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
  • + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ

Từ tháng 10/2022 bà Nguyễn Ái T1 đã không tiếp tục thanh toán nợ thẻ cho Ngân hàng mặc dù Ngân hàng đã nhắc nhở nhưng bà Nguyễn Ái T1 không có thiện chí trả nợ. Do bà Nguyễn Ái T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ ngày 06/01/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn đối với bà Nguyễn Ái T1. Tại thời điểm trên, dư nợ quá hạn của bà Nguyễn Ái T1 là 53.515.145 đồng.

Tạm tính đến ngày 06/6/2024, bà Nguyễn Ái T1 còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 53.515.145 đồng, lãi quá hạn là 34.401.416 đồng, tổng cộng là 87.916.561 đồng.

Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà T1 phải thanh toán số tiền còn thiếu tạm tính đến ngày 06/06/2024 là 87.916.561 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, vào ngày 08/07/2024, bà Nguyễn Ái T1 đã thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc là 53.515.145 đồng. Từ ngày 09/07/2024 số tiền lãi sẽ không phát sinh do bà t đã trả hết số tiền gốc. Số tiền lãi còn lại tính đến hết ngày 08/07/2024 là 36.459.333 đồng. Nên nay Ngân hàng TMCP S1 yêu cầu bà Nguyễn Ái T1 trả tiền lãi quá hạn số tiền là 36.459.333 đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Ái T1 đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập để trình bày ý kiến và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến do đó không thu thập được ý kiến.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền lãi quá hạn là 36.459.333 đồng (Ba mươi sáu triệu bốn trăm năm chín nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).

- Bị đơn vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Tòa án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án; Xác định đúng tư cách đương sự; Thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt văn bản tố tụng; Thu thập chứng cứ đúng theo quy định; Tiến hành Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự; Đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án và thủ tục tố tụng:

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S thì đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng. Bị đơn là bà Nguyễn Ái T1 hiện đang cư trú tại Quận H nên căn cứ theo qui định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Xét nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S có người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Gia T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Nguyễn Ái T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa; Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng” và “Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S” được Ngân hàng phê duyệt ngày 21/5/2019 thì giữa chủ thẻ là bà Nguyễn Ái T1 và bên phát hành thẻ là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có thỏa thuận việc cấp và sử dụng thẻ tín dụng S2- Visa Platinum số thẻ 436438 – 7793, với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,48%/tháng áp dụng theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Căn cứ vào tóm tắt sao kê quá trình sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng Nguyễn Ái T1, có số thẻ 436438 - 7793 do Ngân hàng cung cấp thì bà T1 kích hoạt thẻ vào ngày 21/5/2019, sau đó đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 405.199.174 đồng đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 402.800.849 đồng. Đến tháng 10/2022 thì bà T1 ngưng thanh toán nên từ ngày 06/01/2023, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn thiếu tại thời điểm đó là 53.515.145 đồng sang nợ quá hạn, kèm theo tiền lãi phát sinh là phù hợp với thỏa thuận tại Điều 2, Điều 23 Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Quá trình giải quyết vụ án, vào ngày 08/7/2024, bà T1 đã thanh toán toàn bộ số nợ gốc là 53.515.145 đồng, nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 yêu cầu bà T1 trả số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 08/7/2024 là 36.459.333 đồng. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét bà T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là vi phạm thỏa thuận mà hai bên đã ký kết, do đó việc Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Ái T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi quá hạn tính đến ngày 08/7/2024 là 36.459.333 đồng là phù hợp với thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 21/5/2019; Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

[5]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí, bị đơn là bà Nguyễn Ái T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các Tổ chức tín dụng 2010;

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thương vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sư dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.

    Buộc bà Nguyễn Ái T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền 36.459.333 đồng (Bằng chữ: Ba mươi sáu triệu bốn trăm năm mươi chín nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Nguyễn Ái T1 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.822.967 đồng (Một triệu tám trăm hai mươi ngàn chín trăm sáu mươi bảy đồng).

    Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.927.285 đồng (Một triệu chín trăm hai mươi bảy ngàn hai trăm tám mươi lăm đồng) theo biên lai thu tiền số 0028103 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  4. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Quận 8;
  • - Chi cục THADS Quận 8;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Anh Quân

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 271/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp tín dụng

  • Số bản án: 271/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger