TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 271/2024/DS-PT
Ngày 05/12/2024
“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Quang Nhuận. |
| Các Thẩm phán: | Ông Hồ Văn Phụng. |
| Ông Nguyễn Văn Dũ. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Kim Mộc Nam, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Sơn Cươl, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 192/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 10 năm 2024, về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2024/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 241/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lưu Sơn T, sinh năm 1985, địa chỉ: Số D đường C, khóm F, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990, địa chỉ: Số C đường N, khóm C, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thu K, sinh năm 1980, địa chỉ: Ấp D, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Đặng Thị T2, sinh năm 1982, địa chỉ: Ấp D, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn A, sinh năm: 1980, địa chỉ: Ấp D, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bà Huỳnh Thu K là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/07/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 02/11/2020, bà Đặng Thị T2 có giới thiệu bà Huỳnh Thu K vay tiền ông Lưu Sơn T. Bà K vay của ông T số tiền 50.000.000 đồng với mức lãi suất 4%/tháng, thời hạn trả tiền vay là ngày 02/12/2020. Bà K có viết biên nhận vay tiền và ký tên, đồng thời bà K có thế chấp cho ông T bản chính sổ hộ khẩu gia đình số [...], cấp ngày 07/8/2008 đứng tên chủ hộ là Đặng Văn A và Giấy chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 02/5/2018 tên Đặng Văn A (chồng bà K). Đến ngày 02/12/2020, bà K không trả tiền vốn vay và tiền lãi, ông T đã điện thoại đòi tiền nhiều lần nhưng bà K vẫn không trả.
Tại phiên tòa sơ thẩm, phía nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Huỳnh Thu K phải hoàn trả tiền vốn vay là 50.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 02/12/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 11/6/2024 với mức lãi suất 20%/năm. Ông T đồng ý trả lại bản chính Sổ hộ khẩu và Giấy chứng minh nhân dân đứng tên Đặng Văn A cho bà K.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Huỳnh Thu K trình bày:
Bà K xác nhận vào ngày 02/11/2020 có vay của ông Lưu Sơn T số tiền 50.000.000 đồng, nhưng mức lãi thỏa thuận là 30%/tháng, bà có ký tên biên nhận vay tiền được ghi bằng giấy kẻ ngang khổ nhỏ của cuốn sổ tay, nội dung biên nhận ghi là “tôi Huỳnh Thu K ngày 2 tây tháng 11 năm 2020 tôi có vay của anh Lưu Sơn T 50.000.000 –năm mươi triệu đồng tới ngày 2 tây tháng 12 năm 2020 tôi hoàn trả lại số tiền”. Bà có giao cho ông T giữ Sổ hộ khẩu và Giấy chứng minh nhân dân của chồng bà tên Đặng Văn A. Đúng hạn vào ngày 02/12/2020, bà Đặng Thị T2 chở bà đến nhà ông T để trả tiền vay 50.000.000 đồng và đóng 01 tháng lãi là 15.000.000 đồng. Việc bà trả tiền cho ông T không có làm giấy tờ gì nhưng có bà T2 chứng kiến, lúc trả tiền bà quên nói ông T hủy biên nhận vay tiền và trả lại Giấy chứng minh nhân dân và Sổ hộ khẩu bà đã thế chấp. Sau đó, bà có nhờ bà T2 đi lấy dùm, nhưng bà T2 không có đi.
Nay bà K không đồng ý trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của ông T, vì bà K đã trả đủ tiền gốc và lãi cho ông T vào ngày 02/12/2020. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T trả lại cho bà bản chính Sổ hộ khẩu gia đình số [...], cấp ngày 07/8/2008 và Giấy chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 02/5/2018 tên Đặng Văn A.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn A đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2024/DS-ST ngày 11/6/2024, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
“Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Sơn T về việc yêu cầu bà Huỳnh Thu K trả số tiền gốc 50.000.000 đồng và lãi tính từ ngày 02/12/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 11/6/2024.
[2] Buộc bà Huỳnh Thu K có nghĩa vụ trả cho ông Lưu Sơn T số tiền tiền gốc và lãi tổng cộng 67.554.500 đồng (trong đó gồm 50.000.000 đồng tiền gốc và 17.554.500 đồng tiền lãi).
[3] Khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc khi ông Lưu Sơn T có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Huỳnh Thu K chậm trả số tiền nêu trên cho ông T, thì bà K phải trả lãi đối với số tiền trả chậm theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
[4] Ông Lưu Sơn T có nghĩa vụ trả lại cho bà Huỳnh Thu K bản chính Sổ hộ khẩu gia đình số [...], cấp ngày 07/8/2008 họ, tên chủ hộ là Đặng Văn A và Giấy chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 02/5/2018 tên Đặng Văn A.”
Ngoài ra, trong bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 21/6/2024, bà Huỳnh Thu K gửi đơn kháng cáo, không đồng ý với quyết định của bản án dân sự sơ thẩm, với lý do bà đã trả đủ tiền vốn và lãi cho ông T, đến nay không còn nợ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên đơn khởi kiện, bị đơn giữ nguyên kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến: Về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Huỳnh Thu K giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ông Lưu Sơn T yêu cầu bà Huỳnh Thu K trả tiền vốn vay 50.000.000 đồng và tiền lãi còn nợ theo tờ biên nhận vay tiền lập ngày 02/11/2020. Bà Huỳnh Thu K thừa nhận bà có vay của ông Lưu Sơn T số tiền 50.000.000 đồng và có ký tên vào biên nhận lập ngày 02/11/2020, đồng thời bà thế chấp cho ông T Sổ hộ khẩu và Giấy chứng minh nhân dân của chồng bà tên Đặng Văn A. Như vậy, giữa ông T và bà K có xác lập giao dịch vay số tiền 50.000.000 đồng là đúng thực tế, đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Bà Huỳnh Thu K cho rằng ngày 02/12/2020, bà đã trả cho ông T tiền vốn vay 50.000.000 đồng và tiền lãi 15.000.000 đồng, việc bà trả tiền cho ông T hai bên không có làm giấy tờ và bà cũng quên nói ông T trả lại Giấy chứng minh nhân dân và Sổ hộ khẩu đã thế chấp, nhưng khi bà trả tiền cho ông T có bà T2 chứng kiến.
[3] Tuy nhiên, lời trình bày của bà Đặng Thị T2 chưa rõ ràng và không thống nhất, cụ thể: Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên hỏi bà T2: “Khi bà T2 chở bà K đến nhà ông T để trả nợ là vào ngày, tháng, năm nào? bà có cùng vào nhà ông T để chứng kiến trực tiếp việc bà K trả nợ cho ông T không?” thì bà T2 từ chối trả lời không có lý do; tại phiên tòa sơ thẩm, bà trình bày không nhớ bà K trả tiền cho ông T như thế nào, loại tiền chẵn, lẻ ra sao, nhưng tại cấp phúc thẩm bà khẳng định bà K trả loại tiền 500.000 đồng. Do vậy, lời trình bày của bà T2 chưa đủ cơ sở để chứng minh bà K đã thanh toán xong tiền vốn và tiền lãi cho ông T.
[4] Ngoài lời trình bày nêu trên, bà K không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh bà đã thanh toán xong tiền vốn và tiền lãi cho ông T theo tờ biên nhận lập ngày 02/11/2020. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo của bà K, chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Các nội dung khác trong quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Huỳnh Thu K phải chịu án phí với số tiền 300.000 đồng, do nội dung kháng cáo không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Huỳnh Thu K, giữ nguyên bản án sơ thẩm 42/2024/DS-ST ngày 11/6/2024, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Huỳnh Thu K phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005546 ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quang Nhuận |
Bản án số 271/2024/DS-PT ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 271/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
