1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 177/2024/HNGĐ - ST
Ngày 16 - 8 - 2024
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Nguyễn Quốc Diện
Ông Nguyễn Thanh Tùng
Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.
Trong ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 296/2022/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Hồng R - Sinh năm 1975 (Có mặt).
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Trương T - Sinh năm 1974 (Vắng mặt).
- Cùng trú: Ấp B, xã, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 11.5.2024 và các lời khai tại Tòa án, chị Lê Hồng R (Nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh T kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào ngày 23/3/2006. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên cự cãi và sống ly thân đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị Lê Hồng R và anh Nguyễn Trường Thanh có hai người con chung tên Nguyễn Thị N, sinh năm 1997, Nguyễn Trọng A, sinh năm 1998. Hiện nay hai cháu N và A đã trưởng thành, sức khỏe ổn định, có thể tự lao động nuôi sống bản thân được nên chị R không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Lê Hồng R xác định trong thời gian chung sống có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Lê Hồng R xác định trong thời gian chung sống chị và anh T không có nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng chị nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Nguyễn Trường Thanh, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý về yêu cầu của chị R nhưng anh T không có ý kiến. Tòa án thông báo để anh T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh T vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa anh, chị được.
TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Trường Thanh tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng anh T vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy:
Về hôn nhân: Chị R và anh T kết hôn ngày 06/10/2003, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lương Thế Trân, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị R và anh T được quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, chị R vẫn giữ quan điểm xin được ly hôn với anh T, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, đã có thời gian sống ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử thấy rằng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử anh T không có ý kiến bằng văn bản hay trực tiếp tranh tụng tại Tòa án để thể hiện quan điểm đối với yêu cầu của chị R, cũng như tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho anh. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị R và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu của chị R, cho chị R được ly hôn với anh T là có căn cứ pháp luật được quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Lê Hồng R và anh Nguyễn Trường Thanh có hai người con chung tên Nguyễn Thị N, sinh năm 1997, Nguyễn Trọng A, sinh năm 1998. Hiện nay hai cháu N và A đã trưởng thành, sức khỏe ổn định, có thể tự lao động nuôi sống bản thân được, chị R không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Chị Lê Hồng R xác định trong thời gian chung sống chị và anh T có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, chị R không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Chị Lê Hồng R xác định trong thời gian chung sống không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng anh chị, chị R không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Anh T vắng mặt không có ý kiến về con chung, tài sản và nợ chung nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này giữa các bên đương sự có phát sinh tranh chấp về con chung, tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Hồng R phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
3
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 244, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Các Điều 9, 53, 56, 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Hồng R.
Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Hồng R được ly hôn với anh Nguyễn Trường Thanh.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Hồng R phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng. Chị Lê Hồng R có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0013210 ngày 15 – 5 – 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, sau khi đối trừ chị R đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh Nguyễn Trường Thanh không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai chị Lê Hồng R có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Trường Thanh có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tuấn Kiệt |
Bản án số 177/2024/HNGĐ - ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 177/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ
