Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 270/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 4 - 2024

V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Văn Tác
  2. Ông Võ Văn Tám

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tham gia phiên toà: ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên sơ cấp

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình “ Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 111/QĐST -HNGĐ, ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Trần Hồng Phương U, sinh năm 2000.

Nơi cư trú: số F, tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0397.941.xxx;

2. Bị đơn: anh Nguyễn Bảo T, sinh năm 1997.

Nơi cư trú: tổ F, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.

Số điện thoại: 0346.345.xxx;

(chị U xin vắng mặt, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình hòa giải, nguyên đơn chị Trần Hồng Phương U trình bày:

Chị và anh Nguyễn Bảo T do mai mối được cha, mẹ hai bên đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 2018, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 16 tháng 11 năm 2018.

Sau khi cưới vợ chồng cùng nhau đi Thành phố Hồ Chí Minh để làm công nhân, thời gian đầu hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác chị phát hiện khuyên ngăn và năn nỉ anh T quay về chung sống để cùng nhau lo cho con nhỏ, nhưng anh T nói là không còn tình cảm với chị và không đồng ý quay về chung sống, từ đó chị U trở về quê sinh sống và vợ chồng ly thân cho đến nay. Thời gian ly thân thì anh T không có ý chí hàn gắn, không quan tâm và chăm lo cho gia đình, không phụ tiếp tiền nuôi con. Nay tình cảm không còn chị yêu cầu được ly hôn với anh T

Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Phương B, sinh ngày 05/02/2021, hiện chị đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Toá án giải quyết.

* Anh Nguyễn Bảo T vắng mặt từ khi Toà án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên anh T vắng mặt suốt quá trình tố tụng là chấp hành pháp luật chưa nghiêm, anh cũng được tống đạt triệu tập để nghe xét xử đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, chị U có đơn xin vắng mặt và có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt anh T và chị U theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Hôn nhân của anh, chị do mai mối được gia đình hai bên đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang, sau khi cưới vợ chồng cùng đi làm công nhân ở TP ., thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 anh T có hệ không rõ ràng với người phụ nữ khác chị U phát hiện và có khuyên can, năng nỉ về chung sống lo cho con, nhưng anh T bỏ mặt, từ đó chị U về quê sinh sống rồi vợ chồng ly thân, sau khi ly thân hai người cũng không tạo điều kiện để hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị U yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của ông Trần Hồng B1 (cha ruột chị U), đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét chấp nhận.

- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Phương B, sinh ngày 05/02/2021, hiện chị U đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Nhận thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, cháu B sống với chị U cũng được nuôi dưỡng chăm sóc đảm bảo, cháu dưới 36 tháng tuổi, do đó đề nghị hội đồng xét xử giao cháu B cho chị U tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng cho con như ý kiến của chị U cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết

Đồng thời buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về người tham gia tố tụng: nguyên đơn chị Trần Hồng Phương U yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, chị có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, bị đơn anh Nguyễn Bảo T được tống đạt triệu tập lần thứ 2 để nghe xét xử, nhưng anh không có mặt; việc vắng mặt của anh, chị không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên HĐXX xét xử vắng mặt anh, chị theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: hiện nay anh T cư trú tại: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, nên chị U khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về quan hệ tranh chấp: chị U xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con nên quan hệ tranh chấp là “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khỏan 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của anh, chị do mai mối được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh An Giang, sau khi cưới vợ chồng cùng đi làm công nhân ở TP ., thời gian đầu hạnh phúc đến năm 2022, anh T có quan hệ không rõ ràng với người phụ nữ khác chị U phát hiện có khuyên can và năng nỉ về chung sống để lo cho con, nhưng anh T không đồng ý mà bỏ mặt cho chị U nuôi con, nên chị U về quê sinh sống vợ chồng ly thân, sau khi ly thân hai người cũng không tạo điều kiện hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị U yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của ông Trần Hồng B1 (cha ruột chị U), để anh chị có cuộc sống riêng sau này, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của U theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Phương B, sinh ngày 05/02/2021, hiện chị U đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên, cháu B sống với chị U cũng được nuôi dưỡng chăm sóc đảm bảo, cháu dưới 36 tháng tuổi, do đó hội đồng xét xử giao cháu B cho chị U tiếp tục nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng cho con như ý kiến của chị U cũng phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp nên không giải quyết

[3] Về án phí: chị Trần Hồng Phương U là người xin ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 56 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

- Căn cứ Điều 26, khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Hồng Phương U đối với anh Nguyễn Bảo T.

- Về hôn nhân: chị Trần Hồng Phương U được ly hôn với anh Nguyễn Bảo T.

- Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Phương B, sinh ngày 05/02/2021 cho chị Trần Hồng Phương U nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, anh Nguyễn Bảo T không phải cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không có.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Trần Hồng Phương U phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006746 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, anh Nguyễn Bảo T không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.

Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện PT;
  • - CCTHADS huyện PT;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 270/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 270/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Hồng Phương U đối với anh Nguyễn Bảo T.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger