|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 270/2024/HS-ST
Ngày: 24-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh
Ông Nguyễn Hồng Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Hà - Thư ký Tòa án TP Thanh Hóa
Đại diện Viện kiểm sát thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 288/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 305/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Đức T, sinh năm 1971 tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: số nhà A P, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Đức T1 và bà: Nguyễn Thị T2; vợ: Trần Thị H và 02 con; Tiền án: ngày 11/6/2021 bị TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 05/4/2024 tại nhà tạm giữ Công an thành phố T, “có mặt”.
Bị hại: Anh Vũ Đình D, sinh năm 1983 “có mặt”
Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa
Người làm chứng:
- Chị Đỗ Thị T3, sinh năm 1976 “có mặt”
- Chị Nguyễn Trà M, sinh năm 2000 “có mặt”
- Chị Lê Thị Ngọc Á, sinh năm 2001 “có mặt”
- Chị Văn Thị T4, sinh năm 1978 “có mặt”
- Anh Lê Quang T5, sinh năm 1988 “có mặt”
Trú tại: SN H, Nguyễn Nhữ S, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
Trú tại: S N, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
Trú tại: SN H, Nguyễn Nhữ S, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
Trú tại: SN B N, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
Trú tại: S N, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/12/2023, anh Vũ Đình D đến nhà chị Văn Thị T4, sinh năm 1978, trú tại B N, phường P, thành phố T chơi (D là bạn trai của chị T4). Đến khoảng 23h cùng ngày D thả 02 con chó nhà chị T4 ra ngoài đường thì chó nhà D cắn nhau với chó nhà chị Đỗ Thị T3, sinh năm 1976, trú tại H N, phường P, thành phố T nên giữa chị T3 và anh D có lời qua tiếng lại với nhau. Lúc này, Lê Đức T (là anh chồng của chị T3) đi ra nhìn thấy sự việc nên cũng chửi bới anh D dẫn đến việc anh D và T thách thức đánh nhau. Khi anh D và T định lao vào xô sát đánh nhau thì chị T3 can ngăn đẩy hai bên ra nhưng không được. Anh D1 dùng tay đấm vào mặt T đồng thời giơ chân định đá T thì T dùng tay giật chân anh D1 làm anh D1 ngã xuống đường và bị bất tỉnh. Thấy vậy, chị T3 cùng chị Lê Thị Ngọc Á, chị Nguyễn Trà M, anh Lê Quang T5 cùng một vài người xung quanh vào can ngăn nên sự việc dừng lại. Chị T4 từ trang nhà đi ra nhìn thấy anh D1 đang nằm bất tỉnh nên nhờ mọi người đưa anh D1 về nhà và sau đó được đưa đến Bệnh viện đa khoan tỉnh T cấp cứu. Lê Đức T cũng được người nhà đưa đến Bệnh viện Đ thăm khám vết thương. Hậu quả:
- Anh Vũ Đình D bị thương tích gồm: 01 vết rách da chảy máu ở cằm bên phải kích thước 01cm; vùng trán có nhiều vết xước da kích thước không đồng đều; tại mắt phải bị bầm tím nhẹ; chảy máu não.
- Lê Đức T bị thương tích: mắt phải tụ máu dưới da mi, xuất huyết kết mạc, nội nhãn bình thường; mắt trái tụ máu dưới da mi, nội nhãn bình thường
Tại bản kết luận giám định số 80/KLTTCT-PYTH ngày 29/02/2024 của Trung tâm P kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Đình D tại thời điểm giám định là 68%.
Tại bản kết luận giám định số 119/KLTTCT-PYTH ngày 07/3/2024 của Trung tâm P kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Đức T tại thời điểm giám định là 0%.
Về phần dân sự: Gia đình Lê Đức T và anh Vũ Đình D đã tự thỏa thuận bồi thường số tiền 350.000.000đ (ba trăm năm mươi triệu đồng). Anh D1 đã nhận đủ số tiền không có yêu cầu thêm về phần dân sự và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối với hành vi của Vũ Đình D dùng tay đánh Lê Đức T với tỷ lệ thương tích 0% (không phần trăm). Do đó, không có đủ cơ sở để xử lý hình sự đối với Vũ Đình D nên Cơ quan điều tra Công an thành phố T chuyển Công an thành phố T quyết định xử phạt hành chính đối với D.
Đối với hành vi dùng tay xô đẩy D của chị Đỗ Thị T3 mục đích là để can ngăn việc xô sát đánh nhau giữa anh D và T, không dẫn đến thương tích của D. Do vậy, chị T3 không đồng phạm với T về tội “Cố ý gây thương tích” đối với anh D.
Tại bản cáo trạng số 218/CT-VKS ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Lê Đức Thái về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bị hại không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đối với người bị hại khiếu nại cho rằng ngoài bị cáo T đánh thì còn có 3 đến 4 người khác tham gia đánh anh là đồng phạm trong vụ án nhưng cơ quan Công an, Viện kiểm sát không điều tra, làm rõ để đưa những người này vào tham gia với vai trò đồng phạm trong vụ án là có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội. Ngoài lời trình bày thì anh D không có tài liệu, chứng cứ nào khác giao nộp để chứng chứng minh cho yêu cầu khiếu nại của mình
Tại kết quả giải quyết khiếu nại của Công an thành phố T và Viện kiểm sát thành phố T là không chấp nhận khiếu nại của anh D. Tại phiên tòa anh không có ý kiến gì, do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với loài khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án thấy đủ cơ sở chứng minh: Khoảng 23h00 ngày ngày 24/12/2023, tại trước số nhà H N, phường P, thành phố T. Lê Đức T đã có hành vi dùng tay giật chân anh Vũ Đình D làm anh D ngã xuống đường bất tỉnh gây tỷ lệ tổn thương cơ thể cho anh D 68% sức khỏe.
Đối với nội dung anh D và chị Văn Thị T4 khai báo, ngoài Lê Đức T còn 3 đến 4 người khác tham gia đánh gây thương tích cho anh (trong đó có Lê Đức T6). Tuy nhiên, tại thời điểm anh D và bị cáo T xảy ra xô sát đánh nhau chị T4 không có mặt tại hiện trường. Sau khi vụ việc xong thì chị T4 mới đi ra và nhìn thấy anh D đang nằm dưới đường và thấy có 3 đến 4 người đang dùng tay chân đánh anh D nhưng chị không biết ai, sau này mới biết có Lê Đức T6 tham gia đánh và chị thừa nhận ngoài lời khai thì chị không có chứng cứ nào khác để chứng minh và giao nộp. Lời khai của anh D trong quá trình điều tra đều khẳng định khi xảy ra xô sát đánh nhau chỉ có mình bị cáo T đánh nhau với anh, không còn ai khác tham gia nhưng khi đó có chị T3, chị Ngọc A và chị Trà M chứng kiến sự việc. Sau khi bị T giật chân ngã thì anh bị ngất và không biết sự việc gì xảy ra sau đó, khi tỉnh lại có nghe bạn gái là chị Văn Thị T4 nói lại thấy có 3 đến 4 người đánh anh khi anh đang nằm dưới đất (trong đó có Lê Đức T6). Lời khai của những người có mặt tại hiện trường chị T3, chị Ngọc A và chị Trà M tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay đều khẳng định ngoài Lê Đức T gây thương tích cho anh D không còn ai khác tham gia đánh gây thương tích cho anh D. Lời khai của anh T5 thể hiện thời điểm xảy ra xô sát giữa bị cáo T và anh D thì anh không biết, sau khi vụ việc xong thì anh và chị T4 mới đi ra và nhìn thấy anh D đang nằm dưới đường nhưng không có ai đánh anh D, sau đó thì chị T4 nhờ anh đưa anh D vào nhà. Như vậy, ngoài lời khai của chị T4 thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện T6 cùng một số người khác tham gia đánh gây thương tích cho anh. Mặt khác, sau khi anh được xem lại đoạn camera do cơ quan điều tra thu thập ghi lại quá trình xảy ra xô sát giữa bị cáo T và anh thì anh D khẳng định đoạn camera trên là đúng và thừa nhận ngoài bị cáo T đánh anh thì không còn ai khác tham gia. Do đó, lời khai của chị T4 và yêu cầu của anh cho rằng đang đưa thiếu đồng phạm là không có căn cứ.
Do Lê Đức T gây thương tích cho anh 68% nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố là có cơ sở, phù hợp với pháp luật.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Lê Đức T có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
[3] Tính chất vụ án: Giữa bị cáo và người bị hại không có mâu thuẫn gì trước mà chỉ là mâu thuẫn nhất thời. Lẽ ra, khi các bên có những lời nói chửi bới, thách thức đánh nhau bị cáo phải kìm chế nóng giận để tránh cho hậu quả xảy ra. Do không làm chủ được bản thân nên bị cáo đã gây thương tích cho anh D. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác và gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy cần phải được xử lý nghiêm.
[4] Nhân thân và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị các cơ quan pháp luật cải tạo, giáo dục nhưng lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật. Với tính chất nghiêm trọng của vụ án và nhân thân của bị cáo thì việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Do bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Với tính chất nghiêm trọng của vụ án và hành vi của bị cáo thì việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, căn cứ Điều 38 Bộ luật Hình sự
Khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiêm hình sự cho bị cáo vì đã bồi thường thiệt hại, tại các cơ quan pháp luật bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại có một phần lỗi và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong về phần dân sự và không có yêu cầu gì thêm nên công nhận phần dân sự đã được giải quyết xong.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 NQ số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Xử phạt: Lê Đức T 05 năm 06 tháng (năm năm sáu tháng) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong phần bồi thường.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM. THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị T7 |
Bản án số 270/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 270/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hình sự
