|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 270/2024/DS-ST
Ngày 10 – 12 – 2024
V/v Hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thúy Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Trọn.
Bà Đoàn Thị Sim.
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Tú, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú
Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 428/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 400/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa:
Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị D, sinh năm: 1979 (Có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Thứ V A, xã Tân Hưng Ty, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm: 1974 (Vắng mặt).
Bà Trần Thị H, sinh năm: 1975 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp Đất S, xã Phú Th, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 24/9/2024 và lời khai của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, được bổ sung tại phiên tòa như sau:
Vào ngày 03/4/2023 âm lịch nhằm ngày 21/5/2023 dương lịch bà với ông Nguyễn Văn Th, bà Trần Thị H thỏa thuận, bà cho ông Th, bà H vay số tiền 49.200.000 đồng (Bốn mươi chín triệu, hai trăm nghìn đồng). Khi cho vay hai bên có làm biên nhận viết tay, không công chứng, chứng thực, không thỏa thuận thời hạn thanh toán dứt điểm nhưng hai bên có thỏa thuận miệng thanh toán trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày vay. Hai bên thỏa thuận lãi suất theo quy định của pháp luật. Nếu ông Th, bà H không trả đủ thì phải chịu lãi xuất theo quy định của pháp luật từ ngày vay. Đến ngày 18/12/2023 âm lịch ông Th, bà H đã thanh toán cho bà được 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).
Nay bà yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Th, bà Trần Thị H thanh toán số tiền tổng cộng là 42.057.824 đồng (Bốn mươi hai triệu, không trăm năm mươi bảy nghìn, tám trăm hai mươi bốn đồng).
Tại phiên tòa bà Dẹp yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Văn Th, bà Trần Thị H phải thanh toán cho bà số tiền vốn và lãi là 47.400.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng), trong đó tiền vốn là 37.200.000 đồng, tiền lãi là 10.200.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Cách tính lãi từ ngày 21/5/2023 đến nay ngày 10/12/2024 là 16 tháng, 19 ngày. Số tiền 37.200.000 đồng x 1,66%/tháng = 617.520 đồng; 617.520 đồng x 16 tháng = 9.880.320 đồng; 617.520 đồng : 30 ngày = 20.584 đồng mỗi ngày; 20.584 đồng x 19 ngày = 391.096 đồng. Tổng lãi 9.880.320 đồng + 391.096 đồng = 10.271.416 đồng; Tổng vốn và lãi là 37.200.000 đồng + 10.271.416 đồng = 47.471.416 đồng (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm bảy mươi mốt nghìn, bốn trăm mười sáu đồng), lấy tròn 47.400.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn Th, bà Trần Thị H không gửi văn bản trình bày ý kiên, không gửi chứng cứ cho Tòa án.
Đối với các bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần song các bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa các đương sự không nộp thêm tài liệu, chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của bà Đoàn Thị D thuộc lĩnh vực tranh chấp về hợp đồng vay tài sản; Ông Nguyễn Văn Th, bà Trần Thị H là bị đơn, có nơi cư trú tại ấp Đất S, xã Phú Th, huyện Phú T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành triệu tập các bị đơn để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhiều lần nhưng phía các bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu các bị đơn ông Nguyễn Văn Th, bà Trần Thị H thanh toán số tiền vốn và lãi là 47.400.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng). Xét thấy, việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là sự tự nguyện và là quyền tự định đoạt của đương sự, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về nội dung tranh chấp của vụ án: Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn xác định các bị đơn có vay và còn nợ nguyên đơn số tiền vốn là 37.200.000 đồng (Ba mươi bảy triệu, hai trăm nghìn đồng) và tiền lãi tính theo quy định của pháp luật, các bị đơn không thanh toán nên nguyên đơn yêu cầu các bị đơn thanh toán cho nguyên đơn.
[4.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc các bị đơn thanh toán số tiền vốn là 37.200.000 đồng (Ba mươi bảy triệu, hai trăm nghìn đồng). Hội đồng xét xử xét thấy: Việc thỏa thuận vay tiền giữa nguyên đơn và các bị đơn là hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật. Khi vay tiền giữa các bên có làm biên nhận ngày 03/4/2023 âm lịch. Quá trình giải quyết vụ án các bị đơn không cung cấp chứng cứ, chứng minh nên Tòa án căn cứ vào chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án hoàn toàn phù hợp.
[4.2] Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất từ ngày 21/5/2023 đến nay ngày 10/12/2024 là 16 tháng, 19 ngày. Cụ thể: (37.200.000 đồng x 1,66%/ tháng x 16 tháng x 19 ngày = là 10.271.416 đồng). Tổng tiền vốn và lãi là 47.471.416 đồng (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm bảy mươi mốt nghìn, bốn trăm mười sáu đồng), lấy tròn 47.400.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng). Hội đồng xét xử xét thấy cách yêu cầu tính lãi của nguyên đơn có lợi cho các bị đơn cụ thể từ ngày 21/5/2023 đến tháng 12/2023 bị đơn thanh toán 12.000.000 đồng nên trong khoảng thời gian này nguyên đơn có quyền yêu cầu tính lãi trên số tiền 49.200.000 đồng mà nguyên đơn yêu cầu tính lãi trên số tiền 37.200.000 đồng có lợi cho các bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những lý do trên ở [4.1] và [4.2] xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền vốn và lãi là 47.400.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng).
[5] Về thời gian thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu các bị đơn thanh toán một lần hết số tiền nợ nêu trên nhưng Hội đồng xét xử thấy rằng, việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nên không đề cập xem xét trong vụ án.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nguyên đơn không phải chịu, bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào các Điều 143, 147, 207, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị D.
Buộc ông Nguyễn Văn Th, bà Trần Thị H thanh toán cho bà Đoàn Thị D số tiền vốn và lãi là 47.400.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bà Đoàn Thị D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Văn Th, bà Trần Thị H không thi hành xong khoản tiền trên, thì còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn Th, bà Trần Thị H phải nộp số tiền là 2.370.000 đồng (Hai triệu, ba trăm bảy mươi nghìn đồng, chưa nộp).
Bà Đoàn Thị D không phải chịu án phí. Ngày 24/9/2024, bà D đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 1.051.000 đồng (Một triệu, không trăm năm mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai số 0003827 được nhận lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thúy Dung |
Bản án số 270/2024/DS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 270/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào các Điều 463, 466 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự. Căn cứ vào các Điều 143, 147, 207, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đoàn Thị D. 3 Buộc ông Nguyễn Văn Th, bà Trần Thị H thanh toán cho bà Đoàn Thị D số tiền vốn và lãi là 47.400.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu, bốn trăm nghìn đồng). Kể từ ngày bà Đoàn Thị D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Văn Th, bà Trần Thị H không thi hành xong khoản tiền trên, thì còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành. - Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn Th, bà Trần Thị H phải nộp số tiền là 2.370.000 đồng (Hai triệu, ba trăm bảy mươi nghìn đồng, chưa nộp). Bà Đoàn Thị D không phải chịu án phí. Ngày 24/9/2024, bà D đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 1.051.000 đồng (Một triệu, không trăm năm mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai số 0003827 được nhận lại toàn bộ khi bản án có hiệu lực. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
