Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 270/2024/HSST

Ngày: 20/9/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Lệ.
  2. Bà Phan Thị Xuân Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 244/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 08 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2024/QĐST-HS ngày 27/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 295/2024/QĐST-HS, ngày 13/9/2024, đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Trần Văn B (tên gọi khác: không);

Sinh năm: 1999; Tại: tỉnh Kiên Giang.

Hộ khẩu thường trú: Áp X, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Nơi ở hiện nay: Phòng trọ số F, nhà trọ Cô M, khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Trình độ học vấn: không biết chữ; Nghề nghiệp: không.

Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1969 và bà Trần Thị P, sinh năm 1969.

Anh, chị, em: 06 người (kể cả bị cáo).

Tiền án, Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024.

Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

2/ Họ và tên: Trần Văn V (tên gọi khác: không);

Sinh năm: 2003; Tại: tỉnh Kiên Giang.

Hộ khẩu thường trú: Ấp X, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Nơi ở hiện nay: Phòng trọ số G, nhà trọ Cô M, khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không.

Trình độ học vấn: không biết chữ; Nghề nghiệp: không.

Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1969 và bà Trần Thị P, sinh năm 1969.

Anh, chị, em: 06 người (kể cả bị cáo).

Tiền án: Ngày 21/9/2022, Trần Văn V bị Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 tháng tù giam chấp hành án tại Trại giam tỉnh T. Ngày 21/3/2023 chấp hành xong bản án.

Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2024.

Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

  1. Lê Thị Kim T, sinh năm: 1990; (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Số B Cây Trôm M, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1973; (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Tổ G, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Lê Thị Ngọc X, sinh năm: 2002; (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: Nhà T, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh T.

  7. Nguyễn Thị Thảo Q, sinh năm 2003; (vắng mặt)
  8. Địa chỉ: Ấp L, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm: 1986; (vắng mặt)

Địa chỉ: Số F N, tổ B, khu phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng lúc 05 giờ 23 phút ngày 07/05/2024, B đang ngủ tại phòng trọ thì em ruột tên là Trần Văn V gọi điện thoại qua mạng Zalo rủ đi trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài, B đồng ý. Sau khi gọi xong, B đã xóa hết cuộc gọi, riêng V còn lưu trữ điện thoại.

Khi V gọi xong, B nằm đợi V đến chở đi trộm. Đến khoảng 06 giờ 00 phút cùng ngày, V điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Winner màu đỏ - đen, biển số 94E1 - 412.99 đến chở B đi kiếm tài sản để trộm, khi đi B đội mũ bảo hiểm màu đỏ, còn V đội mũ bảo hiểm màu xám. Đến trước địa chỉ số G tổ A, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh, B ngồi xe sau và nhìn thấy phía bên phải đường có 01 chiếc Honda Vision đang dựng trước quán cơm và 01 túi nhựa trong suốt đang mốc trên cổ xe, bên trong túi có 02 chiếc điện thoại di động nhưng không có người trông giữ. B phát hiện và nói với V “Trong túi nhựa có 02 điện thoại kìa”. V đồng ý và quay đầu xe lại, V ngồi trên xe còn B đi bộ vào bên trong quán, dùng tay trái lấy túi xách đang treo trên xe rồi lên đi ra xe cùng V tẩu thoát. Dọc đường đi, BV kiểm tra bên trong túi thì thấy 01 chiếc điện thoại hiệu Samsung màu xanh và 01 chiếc hiệu Iphone 11 màu xám đen.

Tiếp đến, BV đi về hướng ngã ba V thuộc xã T, huyện C để tiếp tục tìm kiếm tài sản để lấy trộm. Đến sạp bán cá ven đường Tỉnh lộ 7, đối diện Phòng khám H1, địa chỉ E Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C, B ngồi sau thấy 01 chiếc xe hiệu Vision đang dựng, hộc sau cổ xe có để 01 chiếc điện thoại di động. B nói với V “Có điện thoại kia quay lại lấy luôn”, V đồng ý và cho xe quay lại, B xuống xe đi lại dùng tay phải lấy chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần bên phải rồi lên xe tẩu thoát, bị hại không phát hiện nên không truy đuổi. Trên đường tẩu thoát, BV kiểm tra mới biết điện thoại hiệu Oppo màu xám đen.

Khi BV đi trên đường C Mỹ K về hướng xã P, huyện C để bán điện thoại thì V phát hiện trước tiệm T2 đường C Mỹ K có chiếc xe Vision đang dựng, trong hộc sau cổ xe có 01 điện thoại di động nên V hỏi B “Có điện thoại kìa, lấy không?”, B trả lời

“Thôi nhiều rồi bỏ đi”. V trả lời B “Lấy cái nữa rồi nghỉ luôn”, B đồng ý. V điều khiển xe quay lại đứng trước cách đuôi xe Vision khoảng 01m, B bước xuống xe giả vờ hỏi mua nước ngọt để uống. Sau đó, B đi bộ đến chỗ để điện thoại dùng tay phải lấy điện thoại bỏ vào túi quần bên phải, V ngồi trên xe còn nổ máy để cảnh giới. B lấy chai nước ngọt và trả tiền, liền sau đó lên xe cùng V tẩu thoát trên đường C Mỹ K về hướng xã P. Trên đường tẩu thoát, BV kiểm tra biết điện thoại hiệu Oppo màu xanh. Bị hại Lê Thị Kim T phát hiện mất tài sản nên điều khiển xe gắn máy đuổi theo. Đến khoảng 07 giờ 32 phút, khi đi đến đoạn trước quán C, địa chỉ số E đường C, ấp P, xã P, V quay đầu xe lại thì chị T đuổi kịp chặn ngang đầu xe của V và truy hô “Giật điện thoại”. Người dân ngồi trong quán cà phê cầm ghế ném vào xe gắn máy làm cho VB té ngã xuống đường và bị bắt giữ. Sau khi bị bắt, B liền lấy điện thoại đã lấy trộm được trả lại bà T. Ngay sau đó, bà T điện thoại báo Công an xã T đến đưa 02 đối tượng cùng tang vật về trụ sở Công an xã T để làm rõ.

Qua làm việc VB thừa nhận còn thực hiện thêm 01 vụ trộm cắp tài sản khác, cụ thể như sau: Ngày 04/05/2024 VB đã lấy trộm 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 14 Promax tại trước nhà số D đường Đ, tổ A, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh, sau đó đem bán lại tại cửa hàng điện thoại di động C, địa chỉ 413 Quốc lộ B, ấp M, xã P với giá 09 triệu đồng (V lấy 05 triệu đồng, chia B lấy 04 triệu đồng).

Qua làm việc với ông Nguyễn Quốc H (Chủ cửa hàng Đ) cho biết: Ngày 04/05/2024, VB có đến cửa hàng của H bán 01 chiếc ĐTDĐ hiệu Iphone 14 Promax màu tím với giá 09 triệu đồng, H nghĩ là tài sản cá nhân của ông V mang đến bán, hoàn toàn không biết nguồn gốc tài sản trên do đâu mà có.

Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTS ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện C kết luận điện thoại Oppo A55 màu xanh (của bị hại Lê Thị Kim T) trị giá 2.500.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 93/KL-HĐĐGTS ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện C kết luận Oppo A93 màu xám đen (của bị hại Nguyễn Thị L1) trị giá 2.500.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện G ngày 23/5/2024 kết luận điện thoại Iphone 14 Promax màu tím loại 256GB bị chiếm đoạt trị giá 21.300.000 đồng (của bị hại Lê Thị Ngọc X).

Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐGTS ngày 11/6/2024 kết luận điện thoại Iphone 11 Promax màu đen loại 256GB bị chiếm đoạt trị giá 9.800.000 đồng và 01 điện thoại samsung Galaxy A50-64GB bị chiếm đoạt trị giá 1.700.000 đồng (của bị hại Nguyễn Thị Thảo Q).

Vật chứng vụ án:

  • 01 (một) xe mô tô hiệu Winner màu đỏ đen mang BKS 94E1-41299, Số máy KC34E1023591, Số khung RLHKC3707KY009712,
  • 01 (một) chiếc điện thoại hiệu SamSung Galaxy S22 Ultra màu tím hồng, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomill Liet 5G NE màu trắng, đã qua sử dụng;
  • 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ;
  • 01 (một) mũ bảo hiểm màu xám;
  • 02 áo khoác dài tay màu đen;
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A93, màu đen, có Imei 1: 868057057294994, Imei 2: 868057057294986.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A55, màu xanh.
  • 01 (một) điện thoại Iphone 14 Promax màu tím loại 256GB.
  • 01 (một) điện thoại Iphone 11 Promax màu đen loại 256GB và 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A50-64GB.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Bị cáo V trình bày: Bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính với số tiền là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), nộp 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiện lực pháp luật.

Bị cáo B trình bày: Bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính với số tiền là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), nộp 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiện lực pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 228/CT-VKSCC ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Trần Văn B, Trần Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ.

Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 04/5/2024 tại trước nhà số D đường Đ, tổ A, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh, Trần Văn BTrần Văn V có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím loại 256GB, có giá trị 21.300.000 đồng của chị Lê Thị Ngọc X. Đồng thời vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 07/5/2024 tại trước địa chỉ số G tổ A, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh, Trần Văn BTrần Văn V có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 02 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen loại 256GB có giá trị 9.800.000 đồng và hiệu S1 A50-64GB có giá trị 1.700.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thảo Q. Cùng ngày 07/5/2024, Trần Văn BTrần Văn V có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Oppo A93, màu đen, có giá trị 2.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị L1 tại sạp bán cá ven đường Tỉnh lộ 7, đối diện Phòng khám H1, địa chỉ E Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A55 có giá trị 2.500.000 đồng của chị Lê Thị Kim T tại tiệm T2 đường C, xã T, huyện C. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 37.800.000 đồng.

Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Trần Văn B, Trần Văn V đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án, tiền sự: không. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Trần Văn B từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án: có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: không. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Trần Văn V từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

Buộc hai bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô hiệu Winner màu đỏ đen mang BKS 94E1-41299, Số máy KC34E1023591, Số khung RLHKC3707KY009712; 01 (một) chiếc điện thoại hiệu SamSung Galaxy S22 Ultra màu tím hồng, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomill Liet 5G NE màu trắng, đã qua sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xám; 02 áo khoác dài tay màu đen.

01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A93, màu đen, có Imei 1: 868057057294994, Imei 2: 868057057294986. ( Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Thị L1);

01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A55, màu xanh. (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Lê Thị Kim T).

01 (một) điện thoại Iphone 14 Promax màu tím loại 256GB. (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Lê Thị Ngọc X).

01 (một) điện thoại Iphone 11 Promax màu đen loại 256GB và 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A50-64GB. (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Thị Thảo Q).

Các bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.

Lời nói sau cùng của các bị cáo:

Bị cáo V trình bày: Bị cáo đã ăn năn, hối cải xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm về với gia đình.

Bị cáo B trình bày: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ.

Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 04/5/2024 tại trước nhà số D đường Đ, tổ A, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh, Trần Văn BTrần Văn V có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím loại 256GB của chị Lê Thị Ngọc X. Đồng thời vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 07/5/2024 tại trước địa chỉ số G tổ A, ấp P, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh, Trần Văn BTrần Văn V có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 02 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu đen loại 256GB và hiệu S1 A50-64GB có giá trị của chị Nguyễn Thị Thảo Q. Cùng ngày 07/5/2024, Trần Văn BTrần Văn V có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Oppo A93, màu đen của chị Nguyễn Thị L1 tại sạp bán cá ven đường Tỉnh lộ 7, đối diện Phòng khám H1, địa chỉ E Tỉnh lộ 7, ấp M, xã T, huyện C và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A55 của chị Lê Thị Kim T tại tiệm T2 đường C, xã T, huyện C.

Kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTS ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện C kết luận điện thoại Oppo A55 màu xanh (của bị hại Lê Thị Kim T) trị giá 2.500.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 93/KL-HĐĐGTS ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện C kết luận Oppo A93 màu xám đen (của bị hại Nguyễn Thị L1) trị giá 2.500.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện G ngày 23/5/2024 kết luận điện thoại Iphone 14 Promax màu tím loại 256GB bị chiếm đoạt trị giá 21.300.000 đồng (của bị hại Lê Thị Ngọc X).

Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐGTS ngày 11/6/2024 kết luận điện thoại Iphone 11 Promax màu đen loại 256GB bị chiếm đoạt trị giá 9.800.000 đồng và 01 điện thoại samsung Galaxy A50-64GB bị chiếm đoạt trị giá 1.700.000 đồng (của bị hại Nguyễn Thị Thảo Q).

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 37.800.000 đồng.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Văn VTrần Văn B đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được hành vi lén lút nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, các bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

Bị cáo B là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã thực hiện bốn hành vi trộm cắp tài sản và cả bốn hành vi đều cấu thành tội phạm; Tiền án, tiền sự: không. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức hình phạt cho bị cáo B là có cơ sở.

Bị cáo V là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã thực hiện bốn hành vi trộm cắp tài sản và cả bốn hành vi đều cấu thành tội phạm; Tiền án: có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích; Tiền sự: không. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức hình phạt cho bị cáo V là có cơ sở.

Bị cáo B tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính với số tiền là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiện lực pháp luật, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận.

Bị cáo V tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính với số tiền là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiện lực pháp luật, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Lê Thị Kim T1, bà Nguyễn Thị L1, bà Lê Thị Ngọc X, bà Nguyễn Thị Thảo Q; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì đối với các bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố bà T1, bà L1, bà X, bà Q, ông H không có yêu cầu gì đối với các bị cáo; Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ và thông báo cho bà T1, bà L1, bà X, bà Q, ông H biết về thời gian, địa điểm mở phiên Tòa xét xử đối với các bị cáo nhưng bà T1, bà L1, bà X, bà Q, ông H vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của bà T1, bà L1, bà X, bà Q, ông H không ảnh hưởng gì đến nội dung vụ án nên vẫn tiến hành xét xử đối với các bị cáo. Sau này nếu bà T1, bà L1, bà X, bà Q, ông H có yêu cầu gì khác đối với các bị cáo thì sẽ giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.

Về vật chứng:

Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Winner màu đỏ đen mang BKS 94E1-41299, Số máy KC34E1023591, Số khung RLHKC3707KY009712, thu giữ của bị cáo V; Chủ sở hữu chiếc xe này là ông Võ Hoàng P1, sinh năm: 1966, địa chỉ: ấp H, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, hiện ông P1 đã không còn ở địa phương, đi đâu không rõ; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra thông báo tìm chủ sở hữu số 2629/TB-CSĐT ngày 05/7/2024 đến nay đã hết thời hạn nhưng không có ai đến nhận. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước là phù hợp.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại hiệu SamSung Galaxy S22 Ultra màu tím hồng, đã qua sử dụng; Xét thấy đây là phương tiện bị cáo V dùng để thực hiện tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomill Liet 5G NE màu trắng, đã qua sử dụng; Xét thấy đây là phương tiện bị cáo B dùng để thực hiện tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xám; 02 áo khoác dài tay màu đen. Là vật chứng, không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A93, màu đen, có Imei 1: 868057057294994, Imei 2: 868057057294986. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Thị L1, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A55, màu xanh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Lê Thị Kim T, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 (một) điện thoại Iphone 14 Promax màu tím loại 256GB. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Lê Thị Ngọc X, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 (một) điện thoại Iphone 11 Promax màu đen loại 256GB và 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A50-64GB. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Tây Ninh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Thị Thảo Q, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 228/CT-VKSCC ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Trần Văn B, Trần Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo B, bị cáo V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thượng vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn B, Trần Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Trần Văn B 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Trần Văn V 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/5/2024.

Buộc bị cáo Trần Văn B nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng); nộp 01 lần, ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

Buộc bị cáo Trần Văn V nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng); nộp 01 lần, ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mũ bảo hiểm màu đỏ; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xám; 02 áo khoác dài tay màu đen (đã qua sử dụng).

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô Honda Winner màu đỏ đen mang BKS 94E1-41299, Số máy KC34E1023591, Số khung RLHKC3707KY009712; 01 (một) chiếc điện thoại hiệu SamSung Galaxy S22 Ultra màu tím hồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi 11 Liet 5G NE màu trắng (đã qua sử dụng).

Các vật chứng, tài sản nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 212/PNK ngày 20/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bút lục số 382)

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:

Án phí HS-ST: Bị cáo Trần Văn B và bị cáo Trần Văn V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn B, bị cáo Trần Văn V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bà T1, bà L1, bà X, bà Q, ông H vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Phòng PC 27;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ. (20b)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hùng Vương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dân

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 270/2024/HSST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 270/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger