Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 270/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19-9-2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Thành

Ông Nguyễn Hoàng Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn An Ninh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 06 năm 2024 về việc “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 158/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19/8/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lưu Phương T, sinh năm 2001 (vắng mặt)

    Nơi thường trú: Thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Địa chỉ: Số A, ngõ B, đường Đ, thị trấn H, huyện C (Lãnh thổ Đài Loan- Trung Quốc).

    Người đại diện theo ủy quyền nhận các văn bản tố tụng của Tòa án: chị Bế Thị M, sinh năm 1991. Nơi thường trú: thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang, văn bản ủy quyền ngày 14/6/2024, không triệu tập chị M).

  2. Bị đơn: Anh Hoàng Thế V, sinh năm 1993 (vắng mặt)

    Nơi thường trú và địa chỉ cuối cùng của anh V ở Việt Nam: thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang (hiện đang ở nước ngoài không có địa chỉ).

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Lưu Phương T, trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Hoàng Thế V có đăng ký kết hôn ngày 21/03/2022 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn chị và anh V được tự do tìm hiểu và tiến tới hôn nhân. Sau khi kết hôn thì vợ chồng về sống cùng gia đình chồng tại thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang được một thời gian ngắn.

Năm 2023 anh V đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Ban đầu vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc với nhau nhưng một khoảng thời gian sau thì vợ chồng ít liên lạc dần và ngày càng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do mỗi vợ chồng ở một nơi, không quan tâm đến nhau, bất đồng quan điểm sống và không còn tiếng nói chung trong cuộc sống.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Thế V.

Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung, nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay, chị đang lao động và cư trú ở Đài Loan, do mâu thuẫn vợ chồng chị về Việt Nam từ ngày 23/05/2024 để làm thủ tục giải quyết ly hôn với anh Hoàng Thế V tại Tòa án có thẩm quyền đến ngày 18/06/2024 chị lại tiếp tục sang Đài Loan. Do đang lao động và cư trú tại Đài Loan, điều kiện ở xa chị xin vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án và các buổi họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như vắng mặt tại phiên tòa, chị ủy quyền cho chị Bế Thị M, sinh năm 1991. Nơi thường trú: thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang, giao nhận các văn bản tố tụng với Tòa án.

Anh Hoàng Thế V là bị đơn hiện đang ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể, không có lời khai. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh V theo quy định. Nhưng anh V không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án.

Ngày 27/6/2024 và ngày 11/7/2024 Tòa án làm việc xác minh với người thân của anh V là anh Hoàng Văn Đ (là anh trai anh V). Nhưng anh Đ từ chối khai báo, không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh V cho Tòa án cũng như không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho anh V.

Tại phiên tòa sơ thẩm: nguyên đơn chị Lưu Phương T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Hoàng Thế V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị T và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

2

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Đối với nguyên đơn chị Lưu Phương T vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hoàng Thế V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh V là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, và khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Phương T.

Về hôn nhân: cho chị Lưu Phương T được ly hôn anh Hoàng Thế V. Về con chung, tài sản chung không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Lưu Phương T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Lưu Phương T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh Hoàng Thế V. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lưu Phương T là nguyên đơn hiện đang ở nước ngoài. Theo công văn số 14475/QLXNC-P3 ngày 08/07/2024 của Cục Q- Bộ C cung cấp bị đơn anh Hoàng Thế V xuất cảnh ngày 18/08/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Anh V có nơi thường trú cuối cùng tại Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có nguyên đơn chị T và bị đơn anh V đều đang ở nước ngoài, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Về việc vắng mặt đương sự: Đối với nguyên đơn chị Lưu Phương T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Hoàng Thế V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2

3

Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị T và anh V.

  1. Về hôn nhân: Chị Lưu Phương T và anh Hoàng Thế V kết hôn với nhau ngày 21/03/2022 có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh V phát sinh mâu thuẫn, chị T khởi kiện xin ly hôn anh Hoàng Thế V.

    Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn với anh V. Hội đồng xét xử thấy sau khi kết hôn chị T và anh V về chung sống với nhau ngay tại thôn A, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Hiện nay, chị T đang lao động và cư trú ở Đài Loan, do mâu thuẫn vợ chồng chị T về Việt Nam từ ngày 23/05/2024 để làm thủ tục giải quyết ly hôn với anh V. Theo trình bầy của chị T năm 2023 anh V làm thủ tục xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Ban đầu vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc với nhau, nhưng sau một thời gian sự liên lạc giữa vợ chồng ít liên lạc, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Quan điểm sống của hai vợ chồng càng ngày càng khác biệt dẫn đến nhiều bất đồng trong quan điểm sống. Vợ chồng xảy ra mẫu thuẫn thường xuyên xảy ra cãi vã qua điện thoại hai vợ chồng ly thân từ lâu và không chung đụng gì về vấn đề tình cảm, kinh tế. Tòa án đã xác minh qua người thân anh V là anh Hoàng Văn Đ để yêu cầu cùng cấp địa chỉ và tống đạt qua người thân để anh V có ý kiến về quan điểm xin ly hôn của chị T nhưng anh Đ không hợp tác làm việc và cung cấp địa chỉ của anh V ở nước ngoài, Tòa án cũng đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh V nhưng anh V không có ý kiến bằng văn bản gửi Tòa án. Hiện nay hai vợ chồng chị T, anh V đều ở nước ngoài, mỗi người sống một nơi xa cách về địa lý, không ai quan tâm ai. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng chị T anh V đã ly thân một thời gian dài, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh V là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

  2. Về con chung: Vợ chồng chị T, anh V không có con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về tài sản, công nợ: Vợ chồng tự thỏa thuận, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình

4

sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

  1. Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, chị T, anh V hiện đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Phương T.

  1. Về hôn nhân: Chị Lưu Phương T được ly hôn anh Hoàng Thế V.
  2. Về án phí: Chị Lưu Phương T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001345 ngày 27/06/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo bản án: Chị T, anh V hiện đang cư trú ở nước ngoài có quyền kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 270/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 270/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn , tranh chấp nuôi con chung giữa chị T và anh V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger