TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 270/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 11 - 2023.
V/v tranh chấp “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Cương.
Các Hội thẩm nhân dân.
- ông Nguyễn Chí Lin.
- bà Trần Thị Đổi.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lệ Quân – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1106/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 323/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Phạm Thị R, sinh năm 1960.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An (Xin vắng mặt).
Bị đơn: ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Ấp Lập Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An (Xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 17 tháng 10 năm 2023 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn bà Phạm Thị R trình bày: bà và ông Vũ Văn Đ chung sống với nhau vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Long An. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Sau đó, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. ông bà đã ly thân nhau từ năm 2006 cho đến nay. ông bà đã được gia đình hai bên giải quyết nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên bà xin ly hôn với ông Vũ Văn Đ.
Về con chung: Quá trình chung sống, ông bà có một con chung là Vũ Thị Hoài A, sinh ngày 06/5/1995. Con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Vũ Văn Đ trình bày tại bản tự khai ngày 20/10/2023 như sau: ông xác nhận thời gian chung sống, thời gian đăng ký kết hôn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn, thời gian ly thân là đúng. Nay bà R xin ly hôn, ông đồng ý.
Về con chung: Vũ Thị Hoài A, sinh ngày 06/5/1995. Con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: bà Phạm Thị R khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Văn Đ, ông Đ hiện thường trú và hiện đang có mặt tại Ấp Lập Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị R, bị đơn là ông Vũ Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Thị R và ông Vũ Văn Đ chung sống với nhau vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Long An nên hôn nhân giữa ông bà là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét thấy, bà Phạm Thị R và ông Vũ Văn Đ đều trình bày trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, gia đình hai bên đã giải quyết nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. ông bà cũng không thể tự khắc phục được những mâu thuẫn đó. Nay ông bà thống nhất tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không thể hàn gắn nên bà R yêu cầu ly hôn, ông Đ đồng ý.
Từ phân tích trên, thấy rằng hôn nhân giữa bà R và ông Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà R đối với ông Đ là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: bà Phạm Thị R và ông Vũ Văn Đ thống nhất trình bày ông bà chung sống có 01 con chung tên Vũ Thị Hoài A, sinh ngày 06/5/1995. Con chung đã trưởng thành nên không đề cập, xem xét đến.
[4] Về tài sản chung: bà R và ông Đ thống nhất trình bày không có tài sản chung nên HĐXX không đề cập, xem xét đến. Nếu sau này có tranh chấp về tài sản chung thì ông bà sẽ khởi kiện một vụ án khác.
[5] Về nợ chung: bà R và ông Đ thống nhất trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp về nợ chung thì ông bà sẽ khởi kiện một vụ án khác .
[6] Về án phí: bà Phạm Thị R chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, bà Phạm Thị R là người cao tuổi (người từ đủ 60 tuổi trở lên theo Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009), do đó căn cứ vào điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà R được miễn nộp tiền án phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị R đối với ông Vũ Văn Đ.
Về quan hệ hôn nhân: bà Phạm Thị R được ly hôn với ông Vũ Văn Đ.
Về con chung: Vũ Thị Hoài A, sinh ngày 06/5/1995. Con chung đã trưởng thành.
Về tài sản chung: bà Phạm Thị R và ông Vũ Văn Đ trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Nếu sau này ông bà có tranh chấp về tài sản chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
Về nợ chung: bà Phạm Thị R và ông Vũ Văn Đ trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Nếu sau này ông bà có tranh chấp về nợ chung thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.
- Về án phí: bà Phạm Thị R là người cao tuổi (người từ đủ 60 tuổi trở lên theo Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009), do đó căn cứ vào điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà R được miễn nộp tiền án phí Tòa án.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án để xin xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Cương |
Bản án số 270/2023/HNGĐ-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 270/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị R "ly hôn" Vũ Văn Đ
