Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 270/2024/HS-ST

Ngày: 13-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do– Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Ngọc Thảo

2. Bà Bùi Thị Phương Thảo

– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Tố Lâm – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 254/2024/TLST–HS ngày 27 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2024/QĐXXST–HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên Nguyễn Minh H

Sinh ngày 25 tháng 12 năm 1995; Tại: Đồng Nai; Nơi cư trú: Khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D và con bà Lê Thị C. Bị cáo có vợ là Lê Thị Thanh T và có 02 con, con lớn sinh năm 2020 và con nhỏ sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Trần Viết K – sinh năm 1952 (đã chết)

Người đại diện theo pháp luật: Bà Phan Thị Đ, ông Trần Vũ K1, bà Trần Thị Phương T1, bà Trần Thị Thu H1

Người đại diện theo ủy quyền của gia đình bị hại: Ông Trần Vũ K1 sinh năm 1980

Địa chỉ: 5 L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

* Người có quyền nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Xuân V sinh năm 1993
    Địa chỉ: Khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  2. Đỗ Thị M sinh năm 1979
    Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
  3. Nguyễn Thị H2 sinh năm 1972
    Địa chỉ: Khu D, Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt)
  4. Trần Thị Phương T1 sinh năm 1986
    Địa chỉ: E M, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 13/3/2024, Nguyễn Minh H (đã có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Rondo, biển số 60A– 985.39, chở anh Lê Xuân V (sinh năm 1993; trú tại: Khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai), bà Đỗ Thị M (sinh năm 1979; trú tại: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai) và bà Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1972; trú tại: Khu D, ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai) đi từ thành phố L, tỉnh Đồng Nai đến địa bàn tỉnh Đắk Lắk với mục đích tìm hiểu và thu mua nông sản. Đến khoảng 06 giờ sáng ngày 14/3/2024, H điều khiển chiếc xe ô tô trên đi trên đường L thuộc phường T, thành phố B (đây là đoạn đường thẳng, có vạch sơn màu vàng nét đơn đứt quãng phân chia 2 chiều đường xe chạy; mỗi chiều đường có vạch sơn màu trắng nét đơn đứt quãng phân chia 03 làn đường), H điều khiển xe ô tô đi ở làn đường giữa của chiều đường bên phải, theo hướng từ đường V đến đường V, với tốc độ khoảng 40km/h (theo lời khai của H). Lúc này, trên xe ô tô anh V ngồi ở ghế trước bên phải, còn bà M và bà H2 ngồi ở hàng ghế sau của xe ô tô. Khi đi đến gần khu vực giao nhau giữa đường L với đường V, phường T (đây là khu vực có biển báo phía trước là đường giao nhau cùng mức và có đèn báo màu vàng nhấp nháy, kèm biển báo: Chú ý quan sát), thì H bật đèn xi nhan bên phải của xe ô tô biển số 60A– 985.39, để chuẩn bị điều khiển xe chuyển hướng vào đường V. Trong lúc H đang quan sát phía sau bên phải qua gương chiếu hậu, thì lúc này phía trước có ông Trần Viết K (sinh năm 1952; trú tại: 5 L, phường T, thành phố B) đang điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 47M2–1359 (loại xe hai bánh có dung tích xi lanh 110cm³), chuyển hướng từ phải sang trái theo chiều

ngược lại. Do chú ý quan sát gương chiếu hậu, H không phát hiện thấy ông K điều khiển xe mô tô đang chuyển hướng qua đường nên đã để phía trước bên phải đầu xe ô tô biển số 60A–985.39, tông trực tiếp vào phần hông bên phải xe mô tô biển số 47M2– 1359, do ông K điều khiển làm ông K bị hất lên nắp Capo xe ô tô, sau đó rơi xuống xuống đường. Thời điểm này, do bất ngờ nên H không kịp hãm (phanh) xe ô tô mà tiếp tục để chiếc xe di chuyển và đẩy ông K cùng chiếc xe mô tô đi khoảng hơn 10m, mới dừng lại. Hậu quả ông K bị thương nặng và được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện V1, sau đó tử vong cùng ngày; 02 phương tiện nêu trên bị hư hỏng không đáng kể.

Tiến hành xem xét hình ảnh (V) được trích xuất từ dữ liệu do Camera hành trình gắn phía trước trong xe ô tô biển số 60A– 985.39, ghi lại tại thời điểm trước, trong và sau khi xảy ra vụ việc, xác định:

– Bắt đầu hình ảnh (Thời gian bắt đầu thể hiện trong hình ảnh đoạn Video Clip, cụ thể là 2024/03/14; 06: 12: 16; 37km/h) là xe ô tô biển số 60A–985.39, di chuyển trên đường L, tình trạng mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, có vạch sơn màu vàng nét đơn đứt quãng phân chia hai chiều đường xe chạy, chiều đường xe ô tô đang di chuyển thuộc chiều đường bên phải (theo hướng từ đường V đến đường V, thành phố B); thời tiết ghi nhận khô ráo và có nhiều phương tiện cùng tham gia lưu thông trên đường. Lúc này, xe ô tô biển số 60A–985.39, di chuyển với tốc độ tăng dần từ 37km/h – 39km/h (Tốc độ thể hiện trên hình ảnh). Khi cách khu vực ngã ba nơi giao nhau giữa đường L với đường V, thuộc địa bàn phường T, thành phố B, khoảng 30m (thời gian thể hiện trên hình ảnh là 06 giờ 12 phút 24 giây; tốc độ 38km/h). Lúc này, phía trước và cánh xe ô tô do ông H điều khiển khoảng 25m, thấy hình ảnh một người nam giới mặc quần dài, áo khoác, đầu đội mũ bảo hiểm màu trắng một mình điều khiển chiếc xe mô tô màu đỏ đen (không xác định được biển số xe– có bật đèn báo rẽ bên trái), di chuyển ở chiều ngược lại và đang chuyển hướng từ trái qua phải (tính theo hướng di chuyển của xe ô tô). Khi người nam giới này (xác định là ông Trần Viết K) điều khiển chiếc xe mô tô di chuyển sang gần đến làn đường trong cùng (sát vạch sơn màu trắng, nét liền trên đường L tính theo hướng di chuyển của xe ô tô), thì xe ô tô va chạm với xe mô tô nói trên (thời gian thể hiện trên hình ảnh là 06 giờ 12 phút 28 giây; tốc độ xe là 36 km/h). Sau va chạm ông K bị hất lên nắp Capo, đập vùng đầu vào kính chắn gió phía trước, bên phải của xe ô tô; xe ô tô tiếp tục di chuyển (tốc độ thể hiện trên hình ảnh 32km/h). Tiếp theo ông K bị văng, té xuống đường, rồi xe ô tô giảm dần tốc độ và dừng lại (thời gian thể hiện trên hình ảnh là 06 giờ 12 phút 35 giây; tốc độ xe là 0 km/h). (BL: 81–82; 87–88)

Hiện trường vụ tai nạn giao thông:

Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông trên là khu vực trước trụ điện số T83NBN2– 1/3, đường L, thành phố B và gần nơi giao nhau giữa đường L với đường V, thuộc địa bàn phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; đường L được trải

nhựa bằng phẳng rộng 22,70m, chiều đường nơi xảy ra tan nạn giao thông thuộc chiều đường bên phải đường L (theo hướng từ đường V đến đường V, thành phố B), chiều đường này rộng 10,20m và được chia thành 03 làn đường xe chạy bằng vạch sơn trắng nét đơn đứt quãng, làn đường bên trái rộng 3,60m, làn đường ở giữa rộng 3m, làn đường trong cùng bên phải rộng 3,60m. Đoạn đường trước khi đến nơi xảy ra tai nạn giao thông theo hướng từ đường V đến đường V rộng 13,50m và có vạch sơn màu vàng nét đơn đứt quãng chia làm hai làn đường xe chạy; chiều đường bên phải tính theo hướng trên rộng 6,30m và có vạch sơn màu trắng nét đơn đứt quãng phân chia thành hai làn đường xe chạy, làn đường bên trái rộng 3,50m, làn đường trong cùng bên phải rộng 2,80m. Trước khu vực xảy ra tai nạn trên vỉa hè bên phải đường L (tính theo hướng trên) có biển báo nguy hiểm “Sắp đến nơi giao nhau cùng mức” (biển W. 205d) và đèn cảnh báo nguy hiểm màu vàng, kèm biển báo “Chú ý quan sát”.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, chọn hướng đi từ đường V đến đường V, thành phố B làm hướng chuẩn. Chọn mép đường bên phải đường L tính theo hướng chuẩn làm mép đường chuẩn; các số đo tại hiện trường, thể hiện trong sơ đồ hiện trường đều đo vuông góc vào mép đường chuẩn. Chọn dưới gốc trụ điện số T83NBN2– 1/3 (đo vào mép đường chuẩn 1,30m) làm mốc cố định; lấy hướng Bắc làm hướng chính thể hiện trong sơ đồ hiện trường; lấy đơn vị đo là mét (m).

Vị trí các phương tiện, dấu vết tại hiện trường được đánh số thứ tự, ký hiệu và mô tả cụ thể như sau:

  • – Xe mô tô biển số 47M2– 1359 (ký hiệu 1), do ông Trần Viết K điều khiển sau tai nạn giao thông xe ngã sang trái trên mặt đường, đầu xe quay về hướng Đ, đuôi xe quay về hướng T. T2 trục bánh trước cách mép đường chuẩn 6,60m, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 6,45m và cách tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô biển số 60A– 985.39 (kí hiệu 2) là 0,80m.
  • – Xe ô tô biển số 60A–985.39 (ký hiệu 2), do Nguyễn Minh H điều khiển sau tai nạn xe đỗ trên mặt đường, đầu xe quay về hướng đường V, đuôi xe quay về hướng đường V; tâm trục bánh trước bên phải xe cách mép đường chuẩn 4,50m, cách mốc cố định 11,50m và cách đầu giải phân cách cứng 8,80m; tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn 4,20m.
  • – Vết cày xước (ký hiệu 3), trên mặt đường có màu xám trắng, đứt quãng, kích thước (14,90 x 0,01)m, điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 4,60m, điểm cuối vết nằm tại gác để chân trước bên trái xe (1) nơi tiếp xúc với mặt đường ở vị trí cuối cùng.
  • –Vết cày xước (ký hiệu 4), trên mặt đường có màu xám trắng, đứt quãng, kích thước (13,70 x 0,05)m, điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 5,35m và cách đầu vết (3) 1m, điểm cuối vết tiếp xúc khung kim loại bảo vệ yên bên trái xe (1) nơi tiếp xúc với mặt đường.
  • – Mãnh vỡ (ký hiệu 5), kích thước (11 x 1,50)m, tâm đầu vết cách mép đường chuẩn 4,80m; tâm cuối vết tại tâm vùng vết máu (ký hiệu 6).
  • – Vết máu (ký hiệu 6), màu nâu đỏ trên mặt đường, kích thước (0,70 x 0,70)m, tâm vết cách mép đường chuẩn 5,40m; cách tâm trục bánh sau xe (1) là 1,50m.
  • * Căn cứ vào vị trí các phương tiện, các dấu vết tại hiện trường, trên phương tiện xác định vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 60A–985.39 (2) và xe mô tô biển số 47M2– 1359 (1) là tương ứng trên mặt đường L thuộc địa bàn phường T, thành phố B và cách mép đường chuẩn 4m; cách mốc cố định 6,60m; cách đầu vết (3) 0,90m; cách tâm trục bánh sau bên phải xe (2) là 11,40m.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 110/KLGĐTT–PY, ngày 03/5/2024, của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Trần Viết K là do: “Chấn thương sọ não nặng/ nhiều thương tích nặng do tai nạn giao thông”.

Về nồng độ cồn và chất kích thích khác:

– Tại Phiếu xét nghiệm ngày 14/3/2024, của Bệnh viện Y đối với Nguyễn Minh H, thể hiện: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu là 00 mmol/L; âm tính với các chất kích thíc khác.

– Bệnh án của Bệnh viện V1 thể hiện: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu của ông Trần Viết K là 00 mmol/L.

Tại bản cáo trạng số: 267/CT-VKSTP.BMT ngày 27/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, đã truy tố Nguyễn Minh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 12 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 591, 593 Bộ luật Dân sự.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Minh H đã tự nguyện bồi thường chi phí điều trị, mai táng cho gia đình ông Trần Viết K với tổng số tiền 200.000.000 đồng

(hai trăm triệu đồng), anh Trần Vũ K1 là con ruột và là người đại diện theo uỷ quyền của gia đình ông Trần Viết K đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn bãi nại, đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Minh H.

– Đối với hư hỏng của xe mô tô biển số 47M2–1359, do thiệt hại không đáng kể nên chị Trần Thị Phương T1 không yêu cầu giải quyết.

+ Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Rondo, biển số 60A–985.39, là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Nguyễn Minh H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, đã ra quyết định xử lý vật chứng giao trả lại chiếc xe, kèm giấy tờ liên quan đến chiếc xe trên cho bị cáo Nguyễn Minh H nhận quản lý, sử dụng. (BL: 31; 96)

+ Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 47M2–1359, là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Trần Thị Phương T1 (sinh năm 1986; trú tại: E M, phường T, thành phố B). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, đã ra quyết định xử lý vật chứng giao trả chiếc xe trên cho chị T1 nhận quản lý, sử dụng. (BL: 30; 138–143)

+ Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 27/6/2022 (có giá trị đến ngày 27/6/2027), bị cáo Nguyễn Minh H giao nộp, cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc xét xử.

+ Đối với 02 (hai) đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh được trích xuất từ Camera hành trình gắn trên xe ô tô biển số 60A– 985.39 và từ Camera của nhà dân gần nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông. Xét thấy, đây là chứng cứ của vụ án nên cần lưu hồ sơ để phục vụ việc xét xử.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại ông Trần Vũ K1 đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng với bị cáo. Ông K1 đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh H không bào chữa tranh luận gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm

quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo như sau: Vào khoảng 06 giờ sáng ngày 14/3/2024, tại khu vực gần nơi giao nhau giữa đường L với đường V, thuộc địa bàn phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (trước trụ điện số T83NBN2– 1/3, trên lề đường L), Nguyễn Minh H đã có giấy phép hạng C điều khiển xe ô tô biển số 60A–985.39, không chú ý quan sát; không chấp hành chỉ dẫn của biển báo hiệu đường bộ; khi chuyển hướng không giảm tốc độ đến mức an toàn và không nhường đường cho xe đi ngược chiều, nên đã để phía trước bên phải xe ô tô do H điều khiển tông trực tiếp vào phần hông bên phải xe mô tô biển số 47M2– 1359, do ông Trần Viết K điều khiển đi phía trước ngược chiều và đang chuyển hướng sang đường gây ra vụ tai nạn giao thông. Hậu quả, ông K bị chấn thương sọ não nặng và nhiều thương tích khác dẫn đến tử vong. Hành vi của Nguyễn Minh H đã vi phạm Khoản 23 Điều 8; khoản 1 Điều 11; Điều 15 Luật Giao thông đường bộ làm chết 01 người.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Nguyễn Minh H theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người.”

Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo Nguyễn Minh H gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức được, hành vi của bị cáo là thiếu chú ý quan sát, không chấp hành chỉ dẫn của biển báo hiệu đường bộ, khi chuyển hướng không giảm tốc độ đến mức an toàn và không nhường đường cho xe đi ngược chiều nên đã xảy ra tai nạn giao thông, hậu quả làm cho bị hại ông Trần Viết K tử vong. Hành vi của Nguyễn Minh H đã vi phạm vào Khoản 23 Điều 8 và Khoản 1 Điều 11, Điều 15 Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết một người.

Trong vụ án này có một phần lỗi của bị hại, khi tham gia giao thông chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên đã để xảy ra tai nạn. Tuy nhiên lỗi của bị cáo là chủ yếu, trực tiếp dẫn đến thiệt hại về tính mạng của bị hại nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do lỗi của mình gây ra.

[2.2] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Xét bị cáo Nguyễn Minh H trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại đã bãi nại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Mặt khác HĐXX xét thấy trong vụ án này bị hại có một phần lỗi khi chuyển hướng không đảm bảo an toàn nên đã để xảy ra tai nạn giao thông. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó cần xem xét áp dụng cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Minh H là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

[2.3] Đối với ông Trần Viết K không có giấy phép lái xe theo quy định (không sử dụng chất có cồn); điều khiển xe mô tô, biển số 47M2–1359 chuyển hướng nhưng không nhường đường cho xe đi ngược chiều là vi phạm Khoản 9, Điều 8 và Khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Tuy nhiên, sau tai nạn ông K đã tử vong nên không đề cập xử lý.

Đối với chị Trần Thị Phương T1 là con ruột của ông Trần Viết K và là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 47M2–1359. Ngày 13/3/2024, chị T1 điều khiển chiếc xe mô tô biển số 47M2–1359, đến chơi nhà ông K, sau đó gửi chiếc xe tại đây. Việc ông K tự ý sử dụng chiếc xe trên, rồi gây tai nạn giao thông chị T1 không biết, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 591, 593 Bộ luật Dân sự.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Minh H đã tự nguyện bồi thường chi phí điều trị, mai táng cho gia đình ông Trần Viết K với tổng số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), anh Trần Vũ K1 là con ruột và là người đại diện theo uỷ quyền của gia đình ông Trần Viết K đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với hư hỏng của xe mô tô biển số 47M2–1359, do thiệt hại không đáng kể nên chị Trần Thị Phương T1 không yêu cầu giải quyết.

[2.5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho bị cáo Nguyễn Minh H 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Rondo, biển số 60A–985.39 kèm giấy tờ, là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Nguyễn Minh H.

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho chị Trần Thị Phương T1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 47M2–1359, là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Trần Thị Phương T1.

Trả lại cho Nguyễn Minh H 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 27/6/2022 (có giá trị đến ngày 27/6/2027).

Đối với 02 (hai) đĩa DVD chứa dữ liệu hình ảnh được trích xuất từ Camera hành trình gắn trên xe ô tô biển số 60A– 985.39 và từ Camera của nhà dân gần nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông. Xét thấy, đây là chứng cứ của vụ án nên cần lưu hồ sơ để phục vụ việc xét xử.

[2.6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Minh H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Minh H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp

hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.

* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 591, 593 Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo Nguyễn Minh H đã tự nguyện bồi thường chi phí điều trị, mai táng cho gia đình ông Trần Viết K với tổng số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), anh Trần Vũ K1 là con ruột và là người đại diện theo uỷ quyền của gia đình ông Trần Viết K đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho bị cáo Nguyễn Minh H 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia Rondo, biển số 60A–985.39 kèm giấy tờ, là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Nguyễn Minh H.

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho chị Trần Thị Phương T1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 47M2–1359, là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Trần Thị Phương T1.

Trả lại cho Nguyễn Minh H 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 27/6/2022 (có giá trị đến ngày 27/6/2027).

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

* Nơi nhận:

  • – Vụ GĐKT 1 – TANDTC;
  • – TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • – VKSND TP. Buôn Ma Thuột;
  • – Công an thành phố Buôn Ma Thuột;
  • – Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • – Chi cục THADS TP. Buôn Ma Thuột;
  • – Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • – Bị cáo, các đương sự;
  • – Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Kim Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 270/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 270/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh H phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger