Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 270 /2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03/8/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thà
Bà Ngô Thị Thơm

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 104/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 162/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 04/TB-TA ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 05/TB-TA ngày 18 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị H, sinh năm 1996,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn V, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Philipines.

- Bị đơn: Anh Phùng Đức T, sinh năm 1992,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: KDC C, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Philipines.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn V, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Chị H, anh T và bà H1 đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai, chị Ngô Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phùng Đức T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương vào ngày 19/11/2018 và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, chị vẫn ở với bố mẹ đẻ tại thôn V, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương để tiện đi làm việc. Đầu năm 2020 thì anh T đi lao động tại P. Đến tháng 6/2022 thì anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị phát hiện anh T có quan hệ với người phụ nữ khác, mỗi lần gọi điện liên lạc thì anh T hay cáu gắt và xảy ra cãi vã. Chị một mình nuôi con anh T không có trách nhiệm và quan tâm gì đến con. Đầu năm 2023, chị cũng sang Philipines làm việc nhưng chị không liên lạc với anh T. Chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 02/2020 đến nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T để sớm ổn định cuộc sống riêng.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phùng Khánh L, sinh ngày 12/9/2019, hiện cháu đang ở cùng gia đình chị. Ly hôn chị có nguyện vọng nuôi dưỡng, chăm sóc cháu L và tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Trong thời gian chị ở nước ngoài, tạm giao cháu L cho mẹ đẻ chị là bà Nguyễn Thị H1 chăm sóc và nuôi dưỡng cháu cho đến khi chị về Việt Nam.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Về thời điểm kết hôn và mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh T như chị H trình bày là đúng. Chị H hiện đang ở nước ngoài, khi ly hôn chị H có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L và nhờ bà trông nom, chăm sóc cháu L cho đến khi chị H về Việt Nam bà nhất trí.

Do anh Phùng Đức T đang ở nước ngoài, Tòa án đã làm việc với ông Phùng Đức T1 (bố đẻ của anh T) để yêu cầu gia đình cung cấp địa chỉ và quan điểm của anh T đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, ông T1 trình bày: Thời điểm đăng ký kết hôn như chị H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng anh T, chị H chung sống cùng gia đình ông. Năm 2020, anh T đi lao động tại P, chị H đi làm công ty và thường xuyên về nhà bố mẹ đẻ tại xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương, thỉnh thoảng mới về gia đình ông. Đầu năm 2023, chị H cũng sang P làm việc nhưng không làm cùng anh T. Năm 2024, chị H về Việt Nam nhưng chỉ về thăm gia đình ông, sau đó về nhà bố mẹ đẻ ăn Tết. Nay chị H có đơn xin ly hôn, anh T có quan điểm là nếu chị H cương quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh T xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Phùng Khánh L, sinh ngày 12/9/2019 hiện nay đang ở cùng gia đình chị H, ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung, trong thời gian chị H không có mặt tại Việt Nam thì giao cháu L cho bà H1 chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T nhất trí. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T xác định không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T vẫn thường xuyên gọi điện về để hỏi thăm gia đình ông, tuy nhiên anh T không cho ông biết địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài nên ông không thể cung cấp cho Tòa án. Ông đồng ý nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T và sẽ có trách nhiệm thông báo lại cho anh T biết nội dung của các văn bản tố tụng.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn anh T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do; Bà H1 đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình:

  • - Về quan hệ vợ chồng; Xử cho chị Ngô Thị H được ly hôn với anh Phùng Đức T.
  • - Về con chung: Giao cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phùng Khánh L, sinh ngày 12/9/2019 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Trong thời gian chị H ở nước ngoài, tạm giao cháu L cho bà Nguyễn Thị H1 là mẹ đẻ chị H chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi chị H về Việt Nam.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết.
  • - Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Phùng Đức T. Anh T hiện đang sinh sống và lao động tại P. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh T tại P. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị H và gia đình anh T cung cấp địa chỉ nhưng các bên đều không cung cấp được. Thông qua gia đình xác định anh T có liên lạc về gia đình nhưng không cung cấp địa chỉ cho Tòa án. Do vậy, áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.

Tại phiên tòa chị H, bà H1 đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H, anh T, bà H1.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị H và anh Phùng Đức T tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương vào ngày 19/11/2018 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh T đi lao động ở P và chị H nghi ngờ anh T không chung thủy, có quan hệ với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng không tin tưởng nhau và hay xảy ra cãi nhau, vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay, không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Chị H xác định không còn tình cảm với anh T và có đơn xin ly hôn, thông qua gia đình, anh T xác định nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị H. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng chị H, anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị H, anh T có 01 con chung là Phùng Khánh L, sinh ngày 12/9/2019. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con, anh T có quan điểm nhất trí. Xét thấy, cháu L đang có cuộc sống ổn định cùng với gia đình chị H, sự thống nhất về việc người chăm sóc, nuôi dưỡng con chung giữa chị H và anh T phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị H giao con chung cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con. Trong thời gian chị H không ở Việt Nam, tạm giao cháu L cho bà Nguyễn Thị H1 là mẹ đẻ chị H chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi chị H về Việt Nam.

Anh Phùng Đức T được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ngô Thị H được ly hôn anh Phùng Đức T.
  2. Về con chung: Giao cho chị Ngô Thị H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phùng Khánh L, sinh ngày 12/9/2019 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Trong thời gian chị H ở nước ngoài, tạm giao cháu L cho bà Nguyễn Thị H1 là mẹ đẻ chị H chăm sóc và nuôi dưỡng cháu cho đến khi chị H về nước.
  3. Anh Phùng Đức T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  4. Về án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000498 ngày 06/3/2024 (chị H đã nộp đủ án phí).
  5. Về quyền kháng cáo: Bà H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Chị H, anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường Công Hòa, thành phố Chí Linh (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 270/2024/HNGĐ-ST ngày 03/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 270/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị H xin ly hôn Phùng Đức T và tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger