Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 270/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 30/06/2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂNhuyện T - THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ toạ phiên toà – Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Diệm

2. Ông Huỳnh Quốc Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng - Thư ký viên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện T – thành phố H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 06 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dânhuyện T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 140/2025/TLST – HNGĐ ngày 15 tháng 04 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 05 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số 97/2025/QĐ – HNGĐ ngày 13 tháng 06 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thu H, sinh năm 1998 (có đơn xin vắng mặt)

Trú trại: Thôn P, xã L,huyện T, H

Căn cước công dân số: [...]; Ngày cấp: 24/02/2016; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

- Bị đơn: Anh Đặng Văn B, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Trú tại: Xóm 2, thôn 1, xã V,huyện T, H

Căn cước công dân số: [...]; Ngày cấp: 08/12/2021; Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thu H và anh Đặng Văn B tự do tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, thành phố H vào ngày 05/01/2018 và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo đúng phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, anh chị sống tại xóm 2, thôn 1, xã V, huyện T, thành phố H cùng với mẹ anh B.

Sau khi kết hôn, anh chị sống hòa thuận đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh B thường xuyên đi chơi, không quan tâm, chăm sóc gia đình, con chung, không đưa tiền cho chị H để trang trải các sinh hoạt phí trong gia đình. Chị H và hai bên gia đình đã nhiều lần nói chuyện, khuyên nhủ nhưng anh B không thay đổi. Do chị H và anh B không tìm được tiếng nói chung và anh B không có thiện chí để hòa giải các mâu thuẫn đã phát sinh giữa hai bên nên việc tiếp tục chung sống với nhau càng làm cho tâm lý hai bên căng thẳng. Vì vậy, chị H và anh B đã quyết định sống ly thân và chấm dứt quan hệ tình cảm từ cuối năm 2021 đến nay. Trong thời gian ly thân, hai bên có liên lạc với nhau nhưng chỉ để trao đổi những vấn đề liên quan đến con chung, hai bên không đề cập đến vấn đề đoàn tụ và không thực hiện bất kỳ biện pháp nào để cải thiện quan hệ hôn nhân. Nay, chị H xác định không còn tình cảm với anh B và nhận thấy hai bên không còn khả năng đoàn tụ nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị H và anh B có một con chung là cháu Đặng Uyên T, sinh ngày 29/8/2018. Ly hôn, chị H có nguyện vọng nuôi cháu T và không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con.

Hiện tại, chị H là nhân viên văn phòng tại trung tâm đào tạo ngoại ngữ Én Việt, thu nhập ổn định 10.000.000 đồng/ tháng. Chị H nhận lương hàng tháng bằng tiền mặt, không cung cấp được tài liệu chứng minh và chị H đang sống cùng bố mẹ tại thôn P xã L, huyện T, thành phố H nên chị có đủ điều kiện để nuôi con sau ly hôn.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H và anh B không có tài sản chung, công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đặng Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không chấp hành. Tòa án mở phiên hòa giải nhiều lần để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh B vẫn cố tình vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Để đảm bảo quyền lợi của anh Đặng Văn B, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các thủ tục tố tụng như giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử... theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh B vẫn không đến giải quyết vụ án, không cung cấp lời khai, trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

  • - Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên toà.
  • - Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện T phát biểu ý kiến:
  • + Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước phiên tòa xét xử vụ án: Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử điều khiển phiên tòa theo trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng; Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành việc triệu tập của Tòa án, không đến Tòa án làm việc cũng như không thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác của đương sự.
  • + Về nội dung: Chị H và anh B mâu thuẫn đã lâu, anh chị không có khả năng đoàn tụ chung sống. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H cho chị H được ly hôn với anh B. Anh chị có 01 con chung là cháu Đặng Uyên T, sinh ngày 29/8/2018. Giao chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nên không xét. Anh B không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con nên toà không xét. Về tài sản, nhà ở, công nợ: Chị H không yêu cầu tòa giải quyết nên không xét. Chị H phải nộp án phí theo quy định pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở lời trình bày của các bên đương sự có trong hồ sơ và tại phiên tòa được thẩm tra, tranh luận công khai, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện T, hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1]. Về tố tụng và việc xét xử vắng mặt bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập cho bị đơn theo địa chỉ trong đơn khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không đến tòa làm việc. Theo cung cấp của Công an xã Vhuyện T, H là nơi cư trú của anh B thì anh B đang có thông tin cư trú tại thôn 1, xã V, huyện T, Thành phố H. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng anh B vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 207, Điều 227, Đều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được và ra bản án xét xử vắng mặt bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thu H và anh Đặng Văn B xác lập quan hệ hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, thành phố H vào ngày 05/01/2018. Chị H xin ly hôn với anh B do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn tình cảm. Anh B vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp lời khai, quan điểm về việc giải quyết vụ án. Gia đình chị H cho biết anh chị kết hôn và chung sống cùng gia đình anh B nhưng cuộc sống của anh chị không hạnh phúc. Gia đình cũng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn cho anh chị nhưng không thành. Chị H đã về nhà sinh sống và đã sống ly thân với anh B từ năm 2021 đến nay. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh chị sinh sống được cung cấp mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã kéo dài, trầm trọng. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh B đã kéo dài, trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân của anh chị không đạt được, căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thu H, cho chị H được ly hôn với anh Đặng Văn B.

[3]. Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Đặng Uyên T, sinh ngày 29/8/2018. Hiện, cháu T đang sinh sống với chị T. Anh B không có ý kiến về việc nuôi con sau ly hôn. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T.

Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu Đặng Uyên T đang trong độ tuổi phải chăm sóc, giáo dục. Từ khi anh chị sống ly thân, cháu T sinh sống cùng với chị H ở nhà ông bà ngoại. Gia đình chị H sẵn sàng hỗ trợ chị H trong việc chăm sóc, giáo dục cháu T. Chị H có thu nhập và chỗ ở ổn định. Để đảm bảo ổn định cuộc sống, học tập cũng như tâm lý cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình, giao chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đặng Uyên T. Chị H không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên toà không xét. Anh B có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[4]. Về tài sản chung, nhà ở, công nợ: Chị H khẳng định không có, không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết nên không xét.

[5]. Về án phí: Chị Hoàng Thu H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại điều 271, điều 273 bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình;
  • - Khoản 1 Điều 28, 235, 147, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14;

Xử:

B.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thu H được ly hôn với anh Đặng Văn
  2. Về con chung: Xác nhận anh chị có 01 con chung là cháu Đặng Uyên T, sinh ngày 29/8/2018. Giao chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T. Chị H không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên toà không xét. Anh B có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung, nhà ở, công nợ: anh chị không tranh chấp, không yêu cầu tòa án giải quyết nên tòa không xét.
  4. Về án phí: Chị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền chị H đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số BLTU/23 số 0057719 ngày 14.4.2025 của Chi cục thi hành án dân sựhuyện T, H. Chị H đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo:

- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP H;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. T;
  • - Chi cục thi hành án dân sự H. T;
  • - UBND xã V, huyện T, H (Giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 05.01.2018);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 270/2025/HNGĐ - ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ H về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 270/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TCLH giữa chị Hoàng Thu H với anh Đặng Văn B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger