|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 270/2024/HSST Ngày 13/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụ;
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Đỗ Hảo Hoàn
- Bà Phạm Thị Lâm Anh;
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 271/2024/HSST ngày 29/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2024/QĐXXST-HS ngày 29/11/2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh năm 2002; Nơi ĐKHKTT: Thôn E, P, Như T, Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị M; Vợ, con: Chưa; Tiền án, Tiền sự: Không; D1 chỉ bản số 237 ngày 17/4/2024 do Công an quận C lập.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an thành phố H; Số giam: 3374e2/7. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Lê Thanh H, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT: xóm T, thôn V, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông Lê Văn H1 và bà Nghiêm Thị M1; Vợ, con: Chưa; Tiền án, Tiền sự: Không; D1 chỉ bản số 236 ngày 17/4/2024 do Công an quận C lập.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an thành phố H; Số giam: 3375e2/22. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/03/2024, S sử dụng tài khoản Telegram "công tôn" truy cập vào nhóm tobaco Hà Nội liên hệ với đối tượng sử dụng tài khoản Telegram của nick "Phương Linh T1" đặt mua 100g thảo mộc khô chứa ma túy dạng Tobaco với giá 1.300.000 đồng. Sỹ hỏi 100g thảo mộc khô chia được bao nhiêu túi nhỏ thì L nói chia được 30 túi nhỏ, bán với giá 100.000 đồng/túi. S đồng ý mua và chuyển khoản từ tài khoản của mình sang tài khoản của L số tiền 1.350.000 đồng (trong đó có 50.000 đồng tiền phí ship). L nhận được tiền thì hẹn S 3 tiếng sau giao dịch tại khu vực bến xe M, N, Hà Nội. Khoảng 14 giờ cùng ngày, S nhận được cuộc gọi báo ra nhận hàng, S đi ra bến xe M gặp và nhận ma túy từ 01 nam thanh niên không quen biết. Mua xong, S sử dụng và lấy tài khoản Facebook "Cosiba Hoàng N" đăng lên các trang mạng để bán ma túy. Sau đó, S đặt vấn đề với bạn xã hội là Lê Thanh H đi ship hàng cho S, Hòa đồng Ý.
Khoảng 11 giờ ngày 08/4/2024, tại khu vực đầu ngõ E đường C, B, Hà Nội. S đưa cho H 02 túi nilon màu đỏ có dán băng keo bảo H đi ship hàng cho khách. Sau đó, H đi ship đơn hàng cho khách 01 túi nilon tại khu vực A Đ, phường M, N, Hà Nội, thu của khách 660.000 đồng rồi chuyển lại cho S 600.000 đồng. Túi nilon còn lại Lê Thanh H cất trong túi đeo chéo trước ngực. Đến khoảng 15 giờ ngày 08/4/2024, có đối tượng sử dụng tài khoản Zalo "Chủ nhân" nhắn vào Zalo của S tài khoản "S" hỏi mua 08 túi thảo mộc khô chứa ma túy dạng Tobaco. S đồng ý bán với giá 660.000 đồng đã bao gồm tiền ship. Sau đó, S liên lạc với H bảo bên trong túi nilon còn lại có 10 túi thảo mộc khô chứa ma túy dạng Tobaco, H mang đi giao cho khách 08 túi ma tuý tại ngõ A N, T, Cầu G, Hà Nội và 02 túi còn lại thì S cho H sử dụng. H mở túi nilon để trong túi đeo chéo trước ngực ra kiểm tra thì thấy thảo mộc khô thì biết là ma tuý dạng Tobaco do đã từng sử dụng, H lấy ra 02 túi ma tuý để sử dụng và số còn lại thì cất giấu để giao cho khách. Đến khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày, H mang 08 túi thảo mộc khô chứa ma túy dạng Tobaco đến khu vực đầu ngõ A N thì bị Công an phường T phát hiện, kiểm tra, bắt giữ.
Vật chứng thu giữ của Lê Thanh H gồm: 08 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (04x08)cm bên trong có chứa thảo mộc khô; 01 điện thoại di động Oppo A31 màu xanh trắng và 01 xe mô tô Honda Vision, biển kiểm soát: 35E1 - 036.74;
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn S đã đến Công an phường T đầu thú về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” cùng với Lê Thanh H và giao nộp 05 túi nilon bên trong chứa thảo mộc khô; 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng.
Tại Bản kết luận giám định số 2753 ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: “Thảo mộc khô bên trong 08 túi nilon thu giữ của Lê Thanh H có khối lượng 17,478 gam đều có ma túy loại ADB-BUTINACA; Thảo mộc khô bên trong 05 túi nilon thu giữ của Nguyễn Văn S có khối lượng 12,615 gam đều có ma túy loại ADB-BUTINACA”.
Đối với túi nilon đi ship cho khách tại số A Đ, phường M, N, Hà Nội ngày 08/4/2024, Nguyễn Văn S khai bên trong có 04 túi thảo mộc khô chứa ma túy dạng Tobaco. S khai H biết số thảo mộc trên là ma túy Hòa đồng ý nhận ship cho khách đến địa chỉ S bảo nhưng sau đó thay đổi lời khai đơn đầu tiên S chỉ bảo H là đi ship hàng cho S chứ không nói rõ là hàng gì. Lê Thanh H khai không kiểm tra đơn hàng này nên không biết đó là ma túy. Hiện, ngoài lời khai ban đầu của Nguyễn Văn S,
không có tài liệu, chứng cứ nào khác thể hiện Lê Thanh H biết đơn hàng trên là ma túy nên không đủ cơ sở để kết luận Lê Thanh H có hành vi đồng phạm với Nguyễn Văn S trong lần bán ma túy cho khách tại số A Đ, phường M, N, Hà Nội vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08/4/2024.
Ngoài ra, vào hồi 21 giờ 15 phút ngày 04/4/2024, tại khu vực ngõ B đường H, phường M, N, Hà Nội, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận N kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Minh Đ, sinh năm 2005; HKTT: số B P, phường T, thành phố N, Nam Định và Trần Ngọc A, sinh năm 2005; HKTT: SỐ G N, phường L, thành phố N, Nam Định, về hành vi Mua bán trái phép chất mua túy, thu giữ 20 túi thảo mộc khô màu vàng đều có ma túy loại ADB-BUTINACA và MDMB-4en-PINACA, tổng khối lượng 6,686 gam. Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Văn Đ1 đã mua ma túy của Nguyễn Văn S để mang về bán kiếm lời. Trên cơ sở lời khai của Nguyễn Văn Đ1, quá trình đấu tranh, Nguyễn Văn S đã khai nhận trước đó đã bán ma túy T2 cho Nguyễn Văn Đ1 03 lần. Trong đó, ngày 04/4/2024, Nguyễn Văn S đã bán cho Nguyễn Văn Đ1 20 túi ma túy Tobaco với giá 80.000 đồng một túi tại ngõ B đường C, phường C, B, Hà Nội, còn 02 lần còn lại S và Đ1 không nhớ rõ.
Đối với người phụ nữ sử dụng tài khoản telegram “Phương Linh T1” và người đàn ông giao ma túy cho S, do không xác định được nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn S và 01 điện thoại di động Oppo A31 màu xanh trắng; 01 xe Honda Vision BKS 35E1 – 036.74 thu giữ của Lê Thanh H, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận C đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy để xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 270/CT-VKSCG ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy sau khi luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn S và Lê Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 xử phạt bị cáo Lê Thanh H mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 08 túi nilon thu giữ của Lê Thanh H có khối lượng 17,478 gam đều có ma túy loại ADB-BUTINACA; 05 túi nilon thu giữ của Nguyễn Văn S có khối lượng 12,615 gam đều có ma túy loại ADB-BUTINACA; Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn S và 01 điện thoại di động Oppo A31 màu xanh trắng; 01 xe
Honda Vision BKS 35E1 – 036.74 thu giữ của Lê Thanh H. Buộc Nguyễn Văn S phải truy nộp số tiền thu lời 2.000.000 đồng do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.
Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cũng như hành vi của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tòa án. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay xác định được: Hồi 16 giờ 00 phút ngày 08/04/2024, tại khu vực ngõ A N, T, Cầu G, Hà Nội, phát hiện Lê Thanh H đang điều khiển xe Honda Vision BKS 35E1-036.74, cất giấu trong túi đeo chéo trước ngực 08 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (04x08)cm bên trong có chứa thảo mộc khô. Tại chỗ, H khai nhận đó là ma túy T2 đang mang đi bán cho Nguyễn Văn S. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn S đã đến công an phường T đầu thú về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy cùng với Lê Thanh H và giao nộp thêm 05 túi nilon có chứa thảo mộc khô là ma túy Sỹ cất giấu để bán cho khách. Ngoài ra, quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn S còn có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Minh Đ, sinh năm 2005; HKTT: số B P, phường T, thành phố N, Nam Định, 03 lần nhưng không nhớ ngày chỉ nhớ lần cuối cùng là ngày 04/4/2024; 01 lần bán cho H 02 túi nilon vào ngày 06/4/2024 và ngày 08/4/2024 vào lúc 11 giờ tại Đ, phường M, N, Hà Nội 04 túi nilong. Khối lượng ma túy thu giữ của Lê Thanh H là 17,478 gam thảo mộc khô đều có ma túy loại ADB-BUTINACA; của Nguyễn Văn S là 12,615 gam thảo mộc khô đều có ma túy loại ADB-BUTINACA.
Hành vi bán trái phép chất ma tuý cho nhiều người trong nhiều ngày khác nhau của bị cáo Nguyễn Văn S đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo Lê Thanh H đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần phải áp dụng mức hình phạt trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Song khi lượng hình cũng xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ như: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn nhận tội và ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Văn S ra đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên áp
dụng thêm Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo S để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo.
Ngoài hình phạt chính đáng ra cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo nhưng xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[5] Vật chứng vụ án và các biện pháp tư pháp: Thảo mộc khô bên trong 08 túi nilon thu giữ của Lê Thanh H có khối lượng 17,478 gam đều có ma túy loại ADB-BUTINACA; 05 túi nilon thu giữ của Nguyễn Văn S có khối lượng 12,615 gam đều có ma túy loại ADB-BUTINACA, là chất gây nghiện Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn S và 01 điện thoại di động Oppo A31 màu xanh trắng; 01 xe Honda Vision BKS 35E1 – 036.74 thu giữ của Lê Thanh H có liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung công.
Xét quá trình bán ma tuý bị cáo Nguyễn Văn S khai thu lợi được số tiền 2.000.000 đồng từ việc bán ma tuý nên cần buộc bị cáo phải truy nộp sung công quỹ Nhà nước.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn S và bị cáo Lê Thanh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S, Lê Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
1.1. Áp dụng Đ2 b Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/04/2024.
1.2. Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/04/2024.
2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy thảo mộc khô bên trong 08 túi nilon thu giữ của bị cáo Lê Thanh H có khối lượng 17,478 gam đều có ma túy loại ADB-BUTINACA; 05 túi nilon thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn S có khối lượng 12,615 gam đều có ma túy loại ADB-BUTINACA; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn S và 01 điện thoại di động Oppo A31 màu xanh trắng; 01 xe Honda Vision BKS 35E1 – 036.74 màu trắng đen thu giữ của bị cáo Lê Thanh H. Các điện thoại, xe mô tô trên đều đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng. Hiện vật chứng nêu trên đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy theo biên bản giao nhận vật chứng số 37 ngày 03/12/2024.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn S truy nộp số tiền thu lợi bất chính là 2.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.
3. Về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Điều 331; Điều 333; Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Các bị cáo Nguyễn Văn S, Lê Thanh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thụ |
Bản án số 270/2024/HSST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 270/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 28/3/2024 S sử dụng tài khoản telegram "công tôn" truy cập vào nhóm tabaco Hà Nội liên hệ với đối tượng sử dụng tài khoản telegram nick "Phương Linh T1"
