TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 270/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 01/8/2024
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu Từ |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Xuân Thành |
| Ông Võ Duy Bảo |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 456/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 219/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Hồ Thị V, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, có đơn xin xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh Hồ Đình T, sinh năm 1987;
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Nhật Bản. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị V trình bày: Chị và anh Hồ Đình T kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An vào ngày 29/01/2018. Sau một thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, dần rơi vào bế tắc trầm trọng. Cuối năm 2019, anh Hồ Đình T đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Từ đó đến nay, vợ chồng anh chị không còn liên lạc. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị V làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Đình T.
Về con chung: Chị V và anh T có 01 con chung là cháu Hồ Đình Minh U sinh ngày 25/11/2018. Hiện con chung đang ở với chị V. Ly hôn chị V có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu U đến tuổi trưởng thành. Không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Hồ Đình T: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Hồ Đình T thông qua ông Hồ Đình T1 là bố đẻ của anh T và niêm yết theo quy định. Anh T đã biết chị Hồ Thị V yêu cầu ly hôn, nuôi con chung chưa thành niên nhưng hiện anh T vắng mặt, không có ý kiến gửi cho Tòa án.
Tại biên bản xác minh ông Hồ Đình T1 trình bày: Anh Hồ Đình T là con trai của ông T1. Anh T đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản từ năm 2014 cho đến nay. Anh T thường về nước vào dịp Tết nguyên đán thăm gia đình. Anh T thường xuyên liên lạc với vợ chồng ông T1 qua mạng xã hội. Ông chỉ biết anh T ở T, Nhật Bản, ông không biết địa chỉ cụ thể của anh T để cung cấp cho Tòa án. Ông T1 đã thông báo cho anh T biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị V và anh T. Anh T đồng ý ly hôn với chị V và đồng ý giao con chung cho chị V chăm sóc và nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn ở nước ngoài thuộc trường hợp cố tình dấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu chứng cứ cần thiết nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Hồ Thị V được ly hôn với anh Hồ Đình T. Về con chung: Đề nghị giao con chung Hồ Đình Minh U sinh ngày 25/11/2018 cho chị Hồ Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị V không yêu cầu nên không xem xét; đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu. Về án phí: Chị Hồ Thị V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hồ Thị V hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Đình T. Theo Công văn số 13621/QLXNC-P3 ngày 26/6/2024 của Cục Q và lời khai của ông Hồ Đình T1 là bố đẻ của anh T thì có cơ sở xác định hiện nay anh T đang cư trú ở nước ngoài; trước khi xuất cảnh, anh T có địa chỉ tại thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, 40, 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Hồ Đình Thanh vắng M, Tòa án đã gửi công văn yêu cầu ông Hồ Đình T1 và bà Hồ Thị H (Là bố mẹ đẻ của anh T) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho anh T biết để gửi lời khai về cho Tòa án. Tuy nhiên, ông T1, bà H không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh T. Đến nay, Tòa án vẫn chưa nhận được văn bản trình bày ý kiến của anh T liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị V, nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng tại địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh T2 trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Hồ Thị V có đơn xin xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị V và anh Hồ Đình T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hòa giải được. Năm 2019, anh T đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Vợ chồng không còn quan tâm, liên lạc với nhau nên chị V đề nghị được ly hôn với anh T. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị V và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị V, cho chị Hồ Thị V được ly hôn với anh Hồ Đình T.
[2.2] Về con chung: Chị Hồ Thị V và anh Hồ Đình T có 01 con chung là cháu Hồ Đình Minh U, sinh ngày 25/11/2018, hiện đang ở với chị V. Ly hôn, chị V có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ, không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Chị V đang ở Việt Nam, có nguyện vọng được nuôi con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, cũng như để ổn định sinh hoạt của cháu Minh U cần giao cháu cho chị V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, chị V chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Hồ Đình T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị V không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện về tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: Chị Hồ Thị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 4 Điều 207, Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, khoản 1, 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị V.
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị V được ly hôn với anh Hồ Đình T.
- - Về con chung: Giao con chung là cháu Hồ Đình Minh U, sinh ngày 25/11/2018 cho chị Hồ Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị V chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, anh Hồ Đình T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chưa thành niên, chị Hồ Thị V và anh Hồ Đình T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Hồ Thị V phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001308 ngày 09/11/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An (chị Nguyễn Thị tố O nộp thay).
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Chị Hồ Thị V có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Hồ Đình T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Từ |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| CÁC HỘI THẨM | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Võ Duy Bảo Trần Xuân Thành | Nguyễn Thị Thu Từ |
Bản án số 270/2024/HNGĐ-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 270/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ Hồ Thị V - Hồ Đình T
