Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RIA

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST

Ngày 31/5/2024

Về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Công

2. Ông Vũ Thị Phương Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Nữ Lệ Chi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị N – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 434/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/5/2024. giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1988

Địa chỉ: tổ H, ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Phạm Ngọc D, sinh năm 1988

Địa chỉ: tổ B, ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình tố tụng bà L trình bày: bà và ông Phạm Ngọc D tự nguyện chung sống và kết hôn vào ngày 11/12/2009 tại UBND xã T, thành phố B, tỉnh Bà Ria- Vũng Tàu. Thời gian đầu vợ chồng bà chung sống hạnh phúc. Nhưng đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông D có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, cãi vã. Vợ chồng bà nhiều lần cãi vã to tiếng dẫn đến việc ông D đánh bà L và đập phá đồ đạc trong nhà, chính quyền địa phương phải đến nhắc nhở. Bà L có nhờ bố mẹ hai bên nói chuyện để khuyên can ông D nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên tháng 4/2023, ông D bỏ về nhà cha mẹ ruột sống, ông bà ly thân từ đó đến nay. Nay bà L nhận thấy không còn tình cảm với ông D, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không thể chung sống với ông D được nữa. Vì vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông D.

- Về con chung: bà L và ông D có 02 con chung là cháu Phạm Ngọc P, sinh ngày 26/12/2009 và cháu Phạm Ngọc P1, sinh ngày 07/4/2013. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi các con trưởng thành (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: bà L và ông D không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là ông Phạm Ngọc D:

Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông D đến làm việc nhưng ông D vắng mặt tại các buổi làm việc, công khai chứng cứ và hòa giải mà không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, ông D tiếp tục vắng mặt.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án cơ bản đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người gia tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt nên đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Trong quá trình tố tụng, bị đơn là ông Phạm Ngọc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông D không đến làm việc. Phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 15/5/2024, Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa do ông D vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, ông D tiếp tục vắng mặt. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà L, ông D theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56, 58 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là ông Phạm Ngọc D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà L và ông D tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.

[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy: Sự mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa bà L và ông D là có thật, vợ chồng không có sự đồng cảm, bất đồng quan điểm, không còn tình cảm yêu thương nhau, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L.

[4] Về con chung: bà L và ông D có 02 con chung là cháu Phạm Ngọc P, sinh ngày 26/12/2009 và cháu Phạm Ngọc P1, sinh ngày 07/4/2013. Xét yêu cầu của bà L về việc nuôi con chung thì thấy:

Từ khi bà L và ông D ly thân với nhau thì bà L là người trực tiếp chăm sóc các con. Hơn nữa, tại các bản tự khai của cháu Phạm Ngọc P và Phạm Ngọc P1 (bút lục 14, 15) thì các cháu đều có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định cho các con chung cả về mặt thể chất và tinh thần thì Hội đồng xét xử thống nhất giao cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi các con trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: bà L và ông D không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Bà L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 19, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.

- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Phạm Ngọc D.

- Về con chung: giao cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Phạm Ngọc P, sinh ngày 26/12/2009 và cháu Phạm Ngọc P1, sinh ngày 07/4/2013 cho đến khi các con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông D không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000830 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ông Phạm Ngọc D không phải chịu án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 31/5/2024), các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - THA thành phố Bà Rịa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tân Hưng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger