|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2024/DS-ST Ngày: 30/9/2024. V/v Tranh chấp HĐ vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG- TỈNH THÁI BÌNH.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tiến Hưng.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vĩnh và ông Nguyễn Hữu Hiển.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư kí Toà án.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân huyện Đ, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2024/TLST-DS ngày 06/8/2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXX-ST ngày 30/8/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985.
- Nơi cư trú: Số nhà B, đường N, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- * Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1975 và chị Trần Thị T, sinh năm 1976.
- Cùng cư trú: Thôn K, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
- ( Có mặt chị H, vắng mặt anh H1 và chị T)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn - Nguyễn Thị H trình bày:
Do quen biết vợ chồng anh H1 và chị T nên khi anh H1 cùng chị T gọi điện thoại hỏi vay chị số tiền 200.000.000 đồng để mua bất động sản, hai bên thỏa thuận qua điện thoại thời gian vay là 02 tuần, vay không lãi suất. Chị đã chuyển số tiền 200.000.000 đồng vào tài khoản của chị T là 47110001115548 tại Ngân Hàng Đ ngày 17/5/2023. Khi quá thời hạn không thấy anh H1 chị T trả tiền, chị đã nhiều lần gọi điện thoại và gặp trực tiếp để đòi nợ nhưng vợ chồng anh H1 và chị T vẫn không trả mà chỉ khất nợ do khó khăn. Nay chị H yêu cầu vợ chồng anh H1 và chị T trả toàn bộ tiền gốc 200.000.000 đồng + tiền lãi 11,5%/ 01 năm kể từ ngày 17/5/2023.
Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng anh H1 chị T trả toàn bộ tiền gốc 200.000.000 đồng và số tiền lãi 10%/năm kể từ ngày 31/5/2023.
2
Bị đơn anh Nguyễn Mạnh H1 và chị Trần Thị T:
Qua các lần Tòa án triệu tập nhưng anh H1 và chị T đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
I/ Về tố tụng:
Anh Nguyễn Mạnh H1 và chị Trần Thị T qua các lần Tòa án triệu tập nhưng anh H1 và chị T đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định. Anh H1 chị T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến Hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
II/ Về nội dung:
[1] Chị H khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh H1 và chị T trả số tiền 200.000.000 đồng đã vay chị H. Kèm theo đơn khởi kiện là bản sao kê chứng từ giao dịch của Ngân Hàng Đ ngày 17/5/2023 với nội dung: Nguyễn Thị H, Địa chỉ tổ E, thị trấn Q, Q, Thái Bình. Mã khách Hàng 3006295 469897. Loại giao dịch X822BIFB Debit. Nội dung 150152BIDV 47110001115548; E HANG cho C vay (chữ không có dấu). Số tiền 200.000.000 đồng. Qua bản sao kê chứng minh là: Chị H đã cho vợ chồng anh H1 và chị T vay 200.000.000 đồng là có thật.
[2] Về lãi suất chị H xác định chị chỉ cho vay 02 tuần và không có lãi suất. Do anh H1 và chị T qua các lần triệu tập đều không có mặt. Việc vắng mặt của anh H1 và chị T không có lý do thể hiện việc không chấp hành pháp luật, đồng thời anh H1 và chị T đã từ bỏ quyền bảo vệ quyền lợi của chính mình. Do đó, các lời khai của chị H được chấp nhận là: Chị H chỉ cho vay thời hạn 02 tuần. Quá thời hạn 02 tuần thì anh H1 và chị T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nay chị H yêu cầu lãi suất tiền vay do vi phạm nghĩa vụ trả nợ đúng hạn là có căn cứ.
Về mức lãi suất chị H yêu cầu 10%/ năm. Căn cứ vào quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự thì lãi suất được chấp nhận khi người vay quá hạn trả của khoản vay, thời hạn tính lãi từ ngày hạn trả cuối cùng, lãi suất người vay phải trả là theo Khoản 2 Điều 468 là 10%/1 năm. Chị H 02 tuần chị không yêu cầu lãi. Do đó, thời gian tính lãi quá hạn được tính từ ngày 31/5/2023. Như vậy thời hạn trả lãi được tính từ ngày 31/5/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 30/9/2024. Thời gian là 488 ngày x lãi suất 10%/ 1 năm = 26.739.726 đồng.
Từ nhận định trên buộc anh H1 và chị T phải trả cho chị H gồm: tiền gốc 200.000.000 đồng + lãi 26.739.726 đồng = 226.739.726 đồng
[4] Về án phí: Anh H1 và chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
[5] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
3
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 463, 466, Khoản 2 Điều 468; Điều 469 của của Bộ luật dân sự; Điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.
[2] Xử buộc anh Nguyễn Mạnh H1 và chị Trần Thị T phải trả cho chị Nguyễn Thị Hằng số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng, tiền lãi 26.739.726 đồng, tổng là 226.739.726 đồng
Kể từ ngày chị H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh H1 và chị T chậm thi hành án khoản tiền phải thi hành án thì H1 và chị T phải chịu lãi suất đối với khoản tiền phải thi hành án, theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi Hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[3] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Anh Nguyễn Mạnh H1 và chị Trần Thị T phải chịu 11.336.986 đồng tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho chị Hằng số tiền 5.718.000 đồng mà chị H đã nộp tạm ứng án phí biên lai số 0003278 ngày 6/8/2024 tại Chi cục thi Hành án dân sự huyện Đông Hưng.
[4] Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết, các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày; Đối với chị H tính từ ngày tuyên án; Đối với anh Nguyễn Mạnh H1 và chị Trần Thị T tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Tiến Hưng |
Bản án số 27/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 27/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H kiện đòi nợ
