Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày 30-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Dương Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Kha

Bà Nguyễn Bích Thủy

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Hồng Sơn, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Đinh Hồng Khanh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hà mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Tri H (không có tên gọi khác), sinh ngày 10 tháng 11 năm 1990, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Ninh.

Nơi thường trú: tổ C, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Phi H1 và bà Bùi Thị T; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị bắt quả tang ngày 13/5/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Trương Thị Hải Y, sinh năm: 1985; nơi thường trú: tổ E, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nơi tạm trú: khu phố L, thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người chứng kiến: Đinh Khắc T1; Hoàng Văn Đặng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/5/2024, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy, Công an huyện H chủ trì phối hợp với Công an xã Q đang làm nhiệm vụ tại địa bàn xã Q phát hiện tại sân Nhà văn hoá thôn F xã Q có 01 phương tiện xe ô tô nhãn hiệu Mazda2 đang dừng đỗ có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, Tổ công tác bắt quả tang Trương Tri H đang có hành vi cất giấu trái phép ở dưới chân ghế lái xe ô tô 01 (một) hộp bìa các tông màu đỏ - đen, bên trong đựng 01 (một) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng và dụng cụ sử dụng ma túy. H khai nhận chất tinh thể màu trắng trong túi nilon là ma túy đá của H mục đích để sử dụng cho bản thân.

Tại Kết luận giám định số 684/KL-KTHS ngày 19/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q thể hiện: Mẫu vật ký hiệu từ M1, M2, M3, M4 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng M1: 0,363 gam; đối với mẫu vật M2, M3: chất bột màu trắng dạng vết dính trong 01 túi nilon kích thước (2,5x2)cm và ống thủy tinh (M4) dạng vết đều không xác định được khối lượng.

Quá trình điều tra, Trương Tri H khai nhận: khoảng tháng 01/2024, H được một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) quen biết qua ứng dụng "HeeSay" cho 01 (một) túi ma tuý và 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, H chia số ma tuý này ra các túi nhỏ, rồi cất giấu trong xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2 biển kiểm soát 14A - 755.40. Ngày 13/5/2023, trên đường H đến chơi nhà chị gái ruột là Trương Thị Hải Y sinh sống tại thị trấn Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, khi đi xe đến khu vực thôn F, xã Q do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H đã điều khiển xe đỗ vào sân Nhà văn hoá rồi xuống ngồi ở hàng ghế sau sử dụng ma tuý. Khi H vừa sử dụng ma tuý xong, thì bị Công an huyện H bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng.

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Tri H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ngoài ra, Trương Tri H còn khai rõ, chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2 biển kiểm soát 14A - 755.40 là tài sản riêng của chị Trương Thị Hải Y. Chị Y là giáo viên cư trú và làm việc tại huyện H. Bị cáo đi xe từ H ra huyện H để trả lại xe cho chị Y theo yêu cầu của chị, khi chưa kịp đến nhà chị thì bị bắt quả tang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Trương Thị Hải Y có đơn đề nghị xin xe và tại phiên tòa chị Y khai rõ chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2 biển kiểm soát 14A - 755.40 là tài sản của cá nhân chị, số tiền dùng để mua xe là tiền do chị tích cóp mà có không liên quan đến H và gia đình hoặc bất cứ ai khác. Do H không có việc làm ổn định nên chị Y cho mượn xe để làm xe dịch vụ tiện chuyến nhưng thời gian gần đây chị cần sử dụng xe để đưa đón con đi học nên ngày 13/5/2024, H mang xe trả cho chị nhưng H chưa đến nhà chị thì bị giữ xe. Nay chị đề nghị được trả lại xe cho chị phục vụ nhu cầu tham gia giao thông của chị.

Người chứng kiến anh Đinh Khắc T1 và ông Hoàng Văn Đ đều có lời khai thể hiện phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm chứng kiến việc cơ quan chức năng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ vật chứng của Trương Tri H đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Tại Cáo trạng số 3187/CT-VKS, ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Trương Tri H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ các Điều 41 và 239 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phân công Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử đối với vụ án Trương Tri H nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với bị cáo; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt: bị cáo Trương Tri H từ 12 tháng đến 15 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt quả tang, ngày 13/5/2024.
  • *) Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • *) Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bật lửa; 01 (một) ống kim loại quấn băng dính màu đen; 02 (hai) đoạn ống kim loại màu vàng; 01 hộp bìa cát tông; 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì có chữ: “Mâu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số 684/KL-KTHS ngày 19/5/2024” của Phòng K Công an tỉnh Q.
  • Trả lại cho bị cáo: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen bên trong gắn 01 sim số 0367.231.952.
  • Trả lại cho chị Trương Thị Hải Y: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2 màu đỏ, biển kiểm soát 14A-755.40, xe cũ đã qua sử dụng.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng thời bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: bị cáo Trương Tri H tỏ ra ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; đồng thời tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác tiếp tục không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: đánh giá nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cơ bản phù hợp nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; đồng thời trên cơ sở kết luận giám định của phòng K Công an tỉnh Q và các chứng cứ, tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy đủ cơ sở kết luận: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/5/2024, tại khu vực sân Nhà văn hóa thôn F, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, Trương Tri H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,363gam ma túy, loại Methamphetamine dưới chân ghế lái xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2, biển kiểm soát 14A-755.40, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroin, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Bị cáo Trương Tri H có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, vi phạm quy định của Bộ luật Hình sự điều chỉnh. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Trương Tri H đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, các chứng cứ buộc tội của đại diện Viện kiểm sát phù hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng nên quan điểm truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà là có căn cứ pháp lý.

[3]. Xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước, đồng thời xâm phạm trật tự, an toàn công cộng, an ninh xã hội ở địa phương. Đây còn là nguyên nhân gây các loại tội phạm khác, bản thân Trương Tri H có nhận thức và hiểu biết nhất định về pháp luật, tuy nhiên, do thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện nên bị cáo đã thực hiện hành vi pháp luật không cho phép gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân.

[4]. Về áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:

  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là đối tượng lao động tự do thu nhập không ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy cần thiết ấn định mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo ở trong khung đã truy tố và cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.

[6]. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

  • Sau khi giám định, Phòng K Công an tỉnh Q hoàn lại Cơ quan CSĐT Công an huyện H 0,31g gam ma túy loại Methamphetamine cùng vỏ bao gói trong niêm phong số 684/KL-KTHS theo đúng quy định của pháp luật; 02 (hai) bật lửa; 01 (một) ống kim loại quấn băng dính màu đen; 02 (hai) đoạn ống kim loại màu vàng; 01 (một) hộp bìa cát tông, đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu đen gắn 01 (một) sim số thuê bao 0367.231.952, điện thoại đã qua sử dụng, không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho Trương Tri H.
  • Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2 màu đỏ biển kiểm soát 14A - 755.40, xe cũ đã qua sử dụng, xét thấy, chiếc xe không liên quan đến việc phạm tội, nên có căn cứ trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Trương Thị Hải Y.

[7]. Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Trương Tri H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật về án phí.

[8]. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9]. Liên quan trong vụ án có người đàn ông cho H ma túy, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ do đó không đủ cơ sở để làm rõ nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Tri H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/5/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • 2.1. Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bật lửa; 01 (một) ống kim loại quấn băng dính màu đen; 02 (hai) đoạn ống kim loại màu vàng; 01 (một) hộp bìa cát tông; 01 (một) phong bì còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì có chữ: “Mẫu vật hoàn lại kèm theo kết luận giám định số 684/KL-KTHS ngày 19/5/2024” của Phòng K Công an tỉnh Q.
    • 2.2. Trả lại Trương Tri H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu đen, bên trong gắn 01 (một) sim có số thuê bao 0367.231.952, máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong;
    • 2.3. Trả lại chị Trương Thị Hải Y: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2, màu đỏ, biển kiểm soát 14A - 755.40, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.

    (Tình trạng vật chứng trên theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng lập ngày 12/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh).

  3. Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm:
    • Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    • Buộc bị cáo Trương Tri H phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo:
    • Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Hải Hà;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Hải Hà;
  • - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát Công an huyện Hải Hà;
  • - Nhà Tạm giữ Công an huyện Hải Hà;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo; người có QL,NVLQ;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Dương Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/5/2024, tại khu vực sân Nhà văn hóa thôn 6, xã Quảng Chính, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh, Trương Tri Hiếu đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,363gam ma túy, loại Methamphetamine dưới chân ghế lái xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2, biển kiểm soát 14A-755.40, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger