Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 30-5-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quản; ông Phạm Bá Luyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 30/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 28/2024/TLST-HNGĐ ngày 21/02/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 15/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị T - Sinh năm 1985 - Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lương Cao B - Sinh năm 1981 - Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/01/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Lương Cao B kết hôn với nhau vào ngày 02/02/2004, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, được UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp đăng ký kết hôn. Anh, chị chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn vì lý do vợ chồng không chung quan điểm sống, hay xảy ra mâu thuẫn gia đình, không tìm được tiếng nói chung nên chị đã làm đơn ly hôn anh B nhưng sau đó anh B hứa thay đổi nên chị đã rút đơn khởi kiện vào năm 2020 với mong muốn hàn gắn gia đình. Thời gian sau, anh, chị vẫn không thể hàn gắn được nên chị đã làm đơn lại vào năm 2023 nhưng do chị đi làm xa nhà nên không có mặt tại Tòa án theo lịch hẹn của Tòa nên Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án ly hôn của chị vào năm 2023. Vợ chồng chị đã sống ly thân và không còn quan tâm tới nhau nữa. Nay chị đề nghị được ly hôn với anh B theo quy định của pháp luật.

Về con: Vợ chồng chị có 01 con chung là Lương Bá V – sinh ngày 12/6/2007. Chị yêu cầu giao con cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chị cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 2.000.000đ/tháng.

Về tài sản và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, anh B đã biết được chị T khởi kiện xin ly hôn anh ra Tòa án nhưng anh vẫn cố tình vắng mặt, không hợp tác, không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không nêu ý kiến của mình, nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 BLTTDS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T, cho chị T được ly hôn anh Lương Cao B. Về con: Giao cháu Lương Bá V – sinh ngày 12/6/2007 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: Chị T phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Trần Thị T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Lương Cao B. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Nga Sơn.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh L Cao Bằng biết việc chị Trần Thị T xin ly hôn anh. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh B vắng mặt nên không thống nhất được hướng giải quyết vụ án. Ngày 14/5/2024, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, anh B vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, chị T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh B vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử lần hai - vắng mặt cả chị T và anh B.

[2] Về hôn nhân:

Chị Trần Thị T và anh Lương Cao B kết hôn ngày 02/02/2004, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, không cản trở, cưới có đăng ký kết hôn, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị T là do vợ chồng không chung quan điểm sống, hay xảy ra mâu thuẫn gia đình, không tìm được tiếng nói chung. Chị T đã 02 lần nộp đơn đến Tòa án để ly hôn anh B, có 01 lần chị rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh B vẫn không thay đổi. Chị và anh B đã sống ly thân nhau, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T thấy tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn.

HĐXX xét thấy, chị T và anh B có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, anh Bằng k đến Tòa án làm việc, không có ý kiến gì, chứng tỏ anh Bằng không mong muốn đoàn tụ. Mặt khác, tại biên bản xác minh ngày 27/02/2024, đại diện thôn A, xã N cho biết: Chị T và anh B sau khi kết hôn chung sống đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn và đã làm đơn lên Tòa nhưng sau đó thấy anh chị về với nhau, đến nay vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn, chị T đi làm xa thỉnh thoảng về nhưng không thấy ở cùng với anh B.

Như thế chứng tỏ cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần giải quyết cho chị T được ly hôn anh B là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Chị T và anh B có 01 con chung là Lương Bá V – sinh ngày 12/6/2007, chị T yêu cầu giao con cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng. HĐXX thấy, từ khi chị T và anh B sống ly thân nhau đến nay cháu ở với anh B, mặt khác, cháu có nguyện vọng được ở với bố, nên xử giao cháu V cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về mức cấp dưỡng: Chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000đ/tháng, anh B không có ý kiến gì. Xét thấy, người không trực tiếp nuôi con phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con, nên cần buộc chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh B mỗi tháng là 2.000.000đ (hai triệu đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6/2024 cho đến khi cháu V thành niên là phù hợp

[4] Về tài sản và nợ chung: Chị T không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.

[5] Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn và án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị T, cho chị T được ly hôn anh Lương Cao B.
  2. Về con: Giao cháu Lương Bá V – sinh ngày 12/6/2007 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000đ (hai triệu đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6/2024 cho đến khi cháu V thành niên. Chị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Trần Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con định kỳ, tổng cộng là 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST mà chị đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005261 ngày 20/02/2024 của Chi cục THADS huyện N; chị T còn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí DSST.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị T và anh B có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Nga Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Nga Sơn;
  • - UBND xã Nga Thái, huyện Nga Sơn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ - ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị yêu cầu ly hôn anh Lương Cao B, yêu cầu giao 01 con chung cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi thàng là 2.000.000đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger