Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CỬA LÒ

TỈNH NGHỆ AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 27/2023/HS-ST

Ngày: 29/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Trà Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồng Sơn và ông Trương Công Thắng

Thư ký phiên toà: bà Đinh Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tất Hải - kiểm sát viên.

Ngày 29/11/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 27/2023/TLST - HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2023/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ. Sinh ngày 27 tháng 12 năm 1974; nơi sinh: thị xã C, tỉnh Nghệ AnNơi cư trú: khối F, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ học vấn: 02/12. Họ tên cha: Nguyễn Văn R, sinh năm 1940 (đã chết). Họ tên mẹ: Lê Thị Q, sinh năm 1949 (đã chết). Anh chị em ruột có ba người, Nguyễn Thị T là con đầu. C năm 1972. Con có 03 con lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2014. Tiền án; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 15/9/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: ông Phạm Huy L năm 1956 và bà Đinh Thị T1 năm 1961.

Địa chỉ: khối V, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An

(Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người làm chứng:

- Chị Trần Thị T2, sinh năm 1987

Địa chỉ: khối Đ, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ AnVắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Ông Nguyễn Quyết T3, sinh năm 1960

Địa chỉ: khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ AnCó mặt.

- Anh Nguyễn Văn V năm 1981

Nơi ĐKHKTT: xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh

Nơi ở hiện nay: khối M, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ AnCó mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong tháng 6 năm 2023, Nguyễn Thị T4 nhân viên tại quán T20 (khối A, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ Anđối diện siêu thị T6của ông Phạm Huy L năm 1956 và bà Đinh Thị T1 năm 1961 (đều trú tại khối V, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ Annên Tbiết siêu thị Tócó dịch vụ chuyển tiền qua tài khoản để lấy tiền mặt, đồng thời Tbiết được quy luật bố trí giờ làm việc cụ thể của vợ chồng ông Lữ bà T5trong ngày nên T5 nảy sinh ý định “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Phương thức, thủ đoạn phạm tội của T4: Tđưa tiền mặt của mình đến nhờ chị Trần Thị T2 (sinh năm 1987, trú tại khối Đ, phường N, thị xã C tài khoản của chị T3số 3619999129999 ngân hàng Avà tài khoản số [...] ngân hàng V1chuyển tiền của Tvào tài khoản số 1014285738 ngân hàng V2của ông Phạm Huy L1 lý do chuyển tiền cho khách. Sau khi chuyển tiền vào tài khoản của ông LTnhờ ông Nguyễn Q1 T4(sinh năm 1960, trú tại khối F, phường N, thị xã C gặp bà T6 nhận tiền. Sau khi ông T4nhận tiền đưa về cho TTtiếp tục gửi hóa đơn (gọi tắt là Blchuyển tiền này cho anh Nguyễn Văn V1(sinh năm 1981, trú tại khối M, phường N, T anh V2 gặp ông L2 tiếp tục lấy tiền lần thứ hai. Bằng thủ đoạn trên Tđã 04 (bốn) lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ông L2 bà T5cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào lúc 16 giờ 25 phút ngày 20/6/2023, Nguyễn Thị T7 Trần Thị T3chuyển 6.500.000₫ (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng) vào tài khoản số 1014285738 ngân hàng V2của ông L3 gọi điện thoại nhờ T4đến nhận hộ. 16 giờ 32 phút cùng ngày T4đến gặp bà T5nhận số tiền 6.500.000₫ (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng) đưa về cho T 17 giờ 57 phút, Ttiếp tục gửi bill chuyển tiền lần này cho Vnhờ V3 nhận tiền hộ. 18 giờ 02 phút cùng ngày, V2 gặp ông Lữ đưa hóa đơn và nhận từ ông L4 tiền 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng) đưa về cho TTđã chiếm đoạt được số tiền là 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng).

Lần thứ 2: Vào lúc 15 giờ 24 phút ngày 26/6/2023, Nguyễn Thị T7 Trần Thị T3chuyển 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) vào tài khoản số 1014285738 ngân hàng V2của ông L3 gọi điện thoại cho T4đến nhận hộ. 15 giờ 40 phút cùng ngày T4đến gặp bà T5nhận số tiền 11.000.000₫ (Mười một triệu đồng) đưa về cho T 17 giờ 31 phút, Ttiếp tục gửi bill chuyển tiền này cho Vnhờ V3 nhận tiền hộ. 17 giờ 38 phút cùng ngày, V2 gặp ông L5 bill và nhận từ ông L4 tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng) đưa về cho T Tđã chiếm đoạt được số tiền là 11.000.000₫ (Mười một triệu đồng).

Lần thứ 3: Vào lúc 16 giờ 11 phút ngày 27/6/2023, Nguyễn Thị T7 Trần Thị T3chuyển 11.400.000₫ (Mười một triệu bốn trăm ngàn đồng) vào tài khoản số 1014285738 ngân hàng V2của ông L3 gọi điện thoại cho T4đến nhận hộ. 16 giờ 27 phút cùng ngày T4đến gặp bà T5nhận số tiền 11.400.000đ (Mười một triệu bốn trăm ngàn đồng) đưa về cho T 17 giờ 43 phút, Ttiếp tục gửi bill chuyển tiền lần này cho Vnhờ V3 nhận tiền giúp. 18 giờ 10 phút cùng ngày, V2 gặp ông L5 bill và nhận từ ông L4 tiền 11.400.000₫ (Mười một triệu bốn trăm ngàn đồng) đưa về cho T Tđã chiếm đoạt được số tiền là 11.400.000₫ (Mười một triệu bốn trăm ngàn đồng).

Lần thứ 4: Vào lúc 16 giờ 15 phút ngày 29/6/2023, Nguyễn Thị T7 Trần Thị T3chuyển 13.000.000₫ (Mười ba triệu đồng) vào tài khoản số 1014285738 ngân hàng V2của ông L6 đó gọi điện thoại cho T4đến nhận hộ. 16 giờ 30 phút cùng ngày T4đến gặp bà T5nhận số tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng) đưa về cho T Sau đó T8 tục gửi bill chuyển tiền lần này cho V4 nhờ V3 nhận tiền giúp. 17 giờ 25 phút cùng ngày, V2 gặp ông L5 bill và nhận từ ông L4 tiền 13.000.000₫ (Mười ba triệu đồng) đưa về cho T Do phát hiện giao dịch này chỉ chuyển tiền một lần mà rút tiền hai lần nên ông L7 tìm ông T4và Vđể đòi lại tiền. 18 giờ 49 phút cùng ngày, T5 nhờ Trần Thị T3chuyển trả 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) cho ông L

Tổng số tiền Tchiếm đoạt của ông L2T5là: 41.900.000₫ (Bốn mươi mốt triệu chín trăm ngàn đồng).

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) Ổ cứng đầu ghi camera nhãn hiệu WD Purple, dung lượng 1.0 TB, kích thước (15x10x3) cm. Là tài liệu và tài sản riêng của ông Phạm Huy Lữ .Nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C trả lại cho chủ sở hữu.
  • - 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu iphone XSmax màu vàng, số imei 1: 357328097552198, số imei 2: 357328097680650, bên trong chứa sim số 0986770866, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị T9 niêm phong theo quy định.
  • - 01 (một) Điện thoại di động Viettel màu đỏ, số imei 1: 353533066720288, số imei 2: 353533066883284, bên trong chứa sim số 0976621240, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Q1 T4được niêm phong theo quy định.
  • - 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Realme C2 màu đen, số imei 1: 869539040571330, số imei 2: 869539040571322, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn V5 niêm phong theo quy định.

Tất cả các vật chứng còn lại hiện đang được quản lý tại kho vật chứng C1

* Về dân sự:

Ông Phạm Huy L9Đinh Thị T10 nhận lại số tiền là 40.000.000₫ (bốn mươi triệu đồng) do Nguyễn Thị T11 lại, hiện không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 26/CT-VKS-CL ngày 01/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố Nguyễn Thị T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt Nguyễn Thị T từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Về án phí, vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thị xã C, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về việc vắng mặt của bị hại, người làm chứng: bị hại, người làm chứng chị Trần Thị T2 vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai của họ, người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì; do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng.

[3]. Về hành vi phạm tội, tôi danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thị T: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại; có đủ căn cứ kết luận: Lợi dụng sự sơ hở trong giao dịch chuyển tiền của ông Phạm Huy L10 và bà Đinh Thị T12 tháng 6 năm 2023 Nguyễn Thị T13 dùng thủ đoạn lừa đảo chuyển tiền một lần nhưng rút tiền hai lần chiếm đoạt tài sản của ông Phạm Huy L9Đinh Thị T14 thể:

  • - Vào lúc 18 giờ 02 phút, ngày 20/6/2023, Nguyễn Thị T15 đoạt của ông Phạm Huy L9 bà Đinh Thị T2số tiền 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng).
  • - Vào lúc 17 giờ 38 phút, ngày 26/6/2023, Nguyễn Thị T15 đoạt của ông Phạm Huy L9 bà Đinh Thị T2số tiền 11.000.000₫ (Mười một triệu đồng).
  • - Vào lúc 18 giờ 10 phút, ngày 27/6/2023, Nguyễn Thị T15 đoạt của ông Phạm Huy L9 bà Đinh Thị T2số tiền 11.400.000đ (Mười một triệu bốn trăm ngàn đồng).
  • - Vào lúc 17 giờ 25 phút, ngày 29/6/2023, Nguyễn Thị T15 đoạt của ông Phạm Huy L9 bà Đinh Thị T2số tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng).

Tổng số tiền mà Nguyễn Thị T13 chiếm đoạt của ông Phạm Huy L9Đinh Thị T16 41.900.000đ (Bốn mươi mốt triệu chín trăm ngàn đồng).

Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về tính chất vụ án, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh, an toàn cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, không tu chí làm ăn nhưng lại muốn có tiền tiêu xài, đã chiếm đoạt tài sản của bị hại với giá trị khá lớn. Bị cáo có quen biết bị hại, làm việc đối diện nhà của bị hại nên đã theo dõi, nắm bắt được quy luật bố trí giờ làm việc của vợ chồng bị hại ông Lữ bà T5 và bốn lần chiếm đoạt tiền của họ. Do đó, cần xét xử nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bị cáo có ông Hoàng Văn Q2 bà Hoàng Thị B(bố mẹ chồng bị cáo) là những người có công trong cuộc kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Thị T thực hiện 04 hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, giá trị tài sản các lần lừa đảo đều trên 2.000.000 đồng nên bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cần thiết phải xét xử bị cáo mức hình phạt tù để bị cáo lao động, rèn luyện trở thành người có ích cho xã hội.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản là nhà đất của vợ chồng hiện đang thế chấp tại ngân hàng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại trong vụ án đã nhận lại tài sản, đến nay không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về vật chứng:

  • - 01 (một) Ổ cứng đầu ghi camera nhãn hiệu WD Purple, dung lượng 1.0 TB, kích thước (15x10x3) cm. Là tài liệu và tài sản riêng của ông Phạm Huy Lữ .Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định.
  • - 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu iphone XSmax màu vàng, số imei 1: 357328097552198, số imei 2: 357328097680650, bên trong chứa sim số 0986770866, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị T17 Đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • - 01 (một) Điện thoại di động Viettel màu đỏ, số imei 1: 353533066720288, số imei 2: 353533066883284, bên trong chứa sim số 0976621240, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Quyết T (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Realme C2 màu đen, số imei 1: 869539040571330, số imei 2: 869539040571322, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn V6 chiếc điện thoại này không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho anh T4và anh V

[8]. Đối với Trần Thị T3là người Tđưa tiền mặt nhờ chuyển khoản đến tài khoản của ông Phạm Huy Lữ .T3không biết việc nhờ chuyển tiền của T18 mục đích để lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên hành vi của T3không phạm tội.

Đối với Nguyễn Văn VNguyễn Q3 T4là hai người mà T7 đến siêu thị T21 lấy tiền cho mình. T4và Vkhông biết được T19 mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên hành vi của T4và V7 phạm tội.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;
  • - Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • - Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

1. Về tội danh và hình phạt:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo (ngày 15/9/2023).

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iphone XSmax màu vàng, số imei 1: 357328097552198, số imei 2: 357328097680650, bên trong chứa sim số 0986770866, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị T17
  • - Trả lại 01 (một) điện thoại di động Viettel màu đỏ, số imei 1: 353533066720288, số imei 2: 353533066883284, bên trong chứa sim số 0976621240, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Quyết T (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C2 màu đen, số imei 1: 869539040571330, số imei 2: 869539040571322, điện thoại đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn V1 (Vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2023).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND thị xã Cửa Lò;
  • - Chi cục THADS thị xã Cửa Lò;
  • - Công an thị xã Cửa Lò;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - UBND xã Nghi Tân;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Trà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ – TỈNH NGHỆ AN về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 27/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Lừa đảo CĐTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger