Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày: 28/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào

Các hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Hồng Vân
  • 2. Ông Nguyễn Ngọc Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên

Ngày 28/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:14/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 04/2024/HSST-QĐ ngày 15/11/2014, đối với các bị cáo:

1. Cao Thị L - Sinh năm 1983 tại Thanh Hoá; Nơi ĐKNKTT: P.CH 312A-CT1 chung cư X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: Số A Đ, phố A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...] do Cục C1 về TTXH cấp ngày 16/11/2021; Con ông: Cao Bá D và bà: Viên Thị L1; chồng: Đàm Văn Đ (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Viên Thị H - Sinh năm: 1986 tại Thanh Hoá; Nơi cư trú: Phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...] do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 21/8/2021; con ông: Viên Đình H1 và bà: Viên Thị M; chồng: Nguyễn Thanh S và có 03 con (con lớn sinh 2012, con nhỏ sinh 2019); Tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Cao Thị L: Ông Lê Đình C – Luật sư; Công tác tại: Công ty L3 – Đoàn Luật sư H5.

Địa chỉ: Số E P, phường P, quận B, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa năm 2018, do không có việc làm nên Phạm Thị H2 là em họ (sinh năm 1991, trú tại phố T, phường Q, thành phố T) nhờ Cao Thị L xin việc vào công ty TNHH S1, trụ sở tại Khu công nghiệp L, phường Q, thành phố T. Do H2 chưa tốt nghiệp cấp 2, nên nhờ L liên hệ làm bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả để đủ điều kiện xin việc thì được L đồng ý. L lên mạng tìm kiếm thông tin và liên hệ với một người đàn ông tên L2 (không rõ nhân thân, lai lịch) trao đổi làm bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả với giá 2.500.000 đồng/01 bằng. L2 yêu cầu L cung cấp thông tin thì H2 đưa Chứng minh T nhân dân để L chụp ảnh, gửi qua zalo cho L2. Khoảng 03, 04 ngày sau, L nhận được 01 bằng tốt nghiệp giả của Trường Trung học phổ thông N cấp cho Phạm Thị H2 từ L2 qua nhân viên giao hàng. Sau khi nhận được bằng, L hướng dẫn H2 nộp hồ sơ xin việc vào công ty TNHH S1. Đến ngày 10/9/2018 H2 được nhận vào làm, nhưng ngày 15/11/2018 H2 tự ý nghỉ việc và chấm dứt hợp đồng lao động tại công ty TNHH S1.

Tiếp đó, khoảng cuối năm 2020 Viên Thị H là em họ nhờ Cao Thị L xin việc vào Công ty TNHH S1 làm việc. Do chưa tốt nghiệp cấp 2, nên H nhờ L liên hệ làm bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả để xin việc thì L đồng ý. L liên hệ lại với L2 trao đổi làm bằng giả cho H với giá 2.500.000 đồng. H cung cấp Chứng minh thư nhân dân để L chụp ảnh, gửi qua zalo cho L2. Khoảng 03, 04 ngày sau, L nhận được 01 bằng tốt nghiệp giả của Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh T cấp cho Viên Thị H từ L2 qua nhân viên giao hàng. Sau khi nhận được bằng, L hướng dẫn H nộp hồ sơ xin việc vào TNHH S1. Đến ngày 14/12/2020 H được nhận vào làm việc, ngày 08/02/2021 H bị Công ty chấm dứt hợp đồng lao động.

Ngày 20/9/2023, Phạm Thị H2 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tố cáo hành vi làm bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả của Cao Thị L.

Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh T đối với 02 bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông cấp cho Viên Thị H, Phạm Thị H2 xác định:

  • Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO” dưới mục “KT. Giám đốc sở G1” ở mẫu cần giám định (bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông của Phạm Thị H2) so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung ở mẫu so sánh không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  • Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO” ở các mẫu cần

so sánh so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung ở mẫu cần giám định (bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông của Viên Thị H) không phải do cùng một con dấu đóng ra. Vì hình dấu ở mẫu cần giám định được làm bằng phương pháp phun màu.

  • Chữ ký đứng tên “P. giám đốc Lê Văn H3” dưới mục “KT. Giám đốc sở G1” ở mẫu cần giám định (bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông của Viên Thị H, Phạm Thị H2) so với chữ ký đứng tên “P. giám đốc Lê Văn H3” ở các mẫu so sánh không phải do cùng một người ký ra.

Ngày 20/9/2024, khám xét khẩn cấp nơi ở của Cao Thị L phát hiện thu giữ: 01 chứng chỉ tin học của Trung tâm Đ1 cấp cho Cao Thị L; 01 bằng tốt nghiệp Đại học của Trường Đại học kinh tế thành phố H cấp cho Cao Thị L; 01 chứng chỉ sơ cấp lái xe nâng của Trường K1 cấp cho Đặng Văn H4; 01 con dấu của công ty TNHH C2; 01 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTV M1 280.247.0758.

Quá trình điều tra xác định:

1. Đối với chứng chỉ tin học của Trung tâm Đ1, cấp cho Cao Thị L: L khai nhận việc cấp chứng chỉ có thông qua khóa học đào tạo, sau khi có chứng chỉ L chưa sử dụng vào việc gì. Kết quả xác minh tại Sở giáo dục đào tạo thành phố H xác định: Sở G đã tiến hành kiểm tra, rà soát trong danh sách quản lý, lưu trữ, cấp phép, báo cáo liên quan đến hoạt động của các cơ sở đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn trên địa bàn Hà Nội. Trung tâm Đ1 do ông Phạm Duy V sinh ngày 05/5/1954 là giám đốc; được Hội nghiên cứu khoa học về Đ thành lập theo Quyết định số 100/QĐ-TW ngày 28/9/2001. Được sở G cấp Giấy chứng nhận hoạt động đào tạo bồi dưỡng chuyên ngành ngắn hạn số 122/GDCN ngày 18/02/2002. Giấy chứng nhận số 122 có giá trị trong vòng 24 tháng, kể từ ngày cấp. Kể từ khi Giấy chứng nhận số 122 hết thời hạn hoạt động, Trung tâm Đ1 không làm thủ tục đăng ký hoạt động theo quy định. Do vậy sở Đ không có thông tin mẫu hình dấu tròn, hoặc văn bản tài liệu gốc có hình dấu tròn của Trung tâm để cung cấp cho cơ quan điều tra Công an thành phố T.

2. Đối với bằng tốt nghiệp Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Cao Thị L: L khai nhận, khoảng năm 2021 L lên mạng tìm kiếm thông tin người làm bằng Đại học giả (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau khi trao đổi và thỏa thuận giá làm bằng giả là 1.000.000 đồng thì L đã cung cấp thông tin cá nhân theo yêu cầu của người này. Khoảng 10 ngày sau L nhận được 01 bằng tốt nghiệp Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh qua nhân viên giao hàng. Bằng tốt nghiệp đại học này L không sử dụng vào việc gì.

Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh T (đối với bằng Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh cấp cho Cao Thị L) xác định:

  • Hình dấu tròn màu đỏ nội dung “BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO * TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ THANH HÓA” ở mẫu cần giám định so với hình dấu

tròn, màu đỏ nội dung “BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO * TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ THANH HÓA” ở mẫu vật cần so sánh không phải do cùng một con dấu đóng ra.

  • Chữ ký của GS.TS Nguyễn Đông P ở mẫu so sánh với chữ ký đứng tên GS.TS Nguyễn Đông P ở mẫu cần giám định không phải do cùng một người ký ra. Chữ ký ở mẫu cần giám định được làm bằng phương pháp in màu.

3. Đối với 01 con dấu của công ty TNHH C2; 01 giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTV M1 280.247.0758. Xác minh tại Sở G1: Qua kiểm tra dữ liệu tại Sở kế hoạch đầu tư về Công ty TNHH C2, M2 được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTM1, đăng ký lần đầu ngày 29/6/2017. Chủ sở hữu là Cao Thị L, sinh ngày 09/6/1983, Căn cước công dân [...]. Ngày 11/8/2017 Công ty TNHH C2 tạm ngừng hoạt động.

4. Đối với chứng chỉ sơ cấp lái xe nâng của Trường K1 cấp cho Đặng Văn H4.

Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh T xác định: Chữ ký đứng tên Trương Đức T1 ở dưới mục “P.HIỆU TRƯỞNG” ở mẫu cần giám định so với chữ ký đứng tên “Trương Đức T1” ở các mẫu vật so sánh là do cùng 01 người ký ra (Do chỉ thu thập được mẫu chữ Ký Trương Đức T1 mà không thu thập được mẫu con dấu đỏ của Trường K1” nên chỉ giám định được chữ ký không giám định được con dấu).

Lời khai Trương Trọng Giáp (sinh năm 1974, trú tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa), Đặng Văn H4 (sinh năm 1994, trú tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) và Cao Thị L phù hợp với nhau, cụ thể: Do quen biết từ trước giữa G và L, biết L có thể xin được việc làm, nên khoảng tháng 10/2020 khi H4 (cháu họ của G) có nhu cầu xin việc thì G đã nhờ L xin việc cho H4. L nói có thể xin cho H4 vào lái xe tại nhà máy G2 tại cảng L, phường Q, thành phố T nhưng phải biết lái xe nâng, do H4 chưa có chứng chỉ nên sẽ xin cho H4 vào lái xe tải trước và lái xe nâng sẽ học thành thục sau. L yêu cầu H4 làm 01 bộ hồ sơ xin việc và đưa L 1.300.000 đồng phí xin việc và học lái xe nâng. Sau đó, H4 đưa cho L 01 bộ hồ sơ xin việc gồm (Phô tô công chứng căn cước công dân, giấy khám sức khỏe, giấy phép lái xe, ảnh 3x4) và 1.300.000 đồng phí theo yêu cầu của L. L tự mình lấy thông tin của H4 từ bộ hồ sơ xin việc, lên mạng tìm kiếm thông tin và liên hệ với một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) để làm chứng chỉ lái xe nâng giả cho H4. Khi nhờ xin việc, H4 và G không biết việc L làm chứng chỉ lái xe nâng giả cho H4. Sau khi nhận được chứng chỉ lái xe nâng giả, L không đưa cho H4, cũng không sử dụng để xin việc nữa. H4 cũng không còn nhu cầu đi làm ở Thanh Hóa nên không liên hệ lại với L về vấn đề xin việc.

Tại Bản án hình sự số 04/2024/HSST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xác định: Ngày 14/01/2019 Mai Ngọc V1 (sinh năm 1990, trú tại số G, T, khu phố A, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh) thành lập Công ty TNHH

K2, chi nhánh K1 và giao cho Trương Đức T1 (sinh năm 1990, trú tại số G, T, khu phố A, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh) là em họ V1 đứng tên chủ sở hữu và làm Tổng giám đốc. Ngày 18/01/2019 V1 thành lập Trường K1 – chi nhánh công ty TNHH K2 tại thành phố Hồ Chí Minh, giao cho T1 đăng ký là người đứng đầu. Ngày 01/3/2019 thay đổi đăng ký Trường K1 về hoạt động tại tỉnh Quãng Ngãi (Ngày 02/4/2019 Sở L4 cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động). Ngày 01/12/2021 Sở Lao động, thương binh và xã hội tỉnh L4 quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp (Theo quyết định số 557), do vi phạm nghiêm trọng quy định về tổ chức hoạt động giáo dục nghề nghiệp.

V1 chỉ đạo cho T1 ký khống các chứng chỉ. Ngoài ra để T1 kiếm thêm thu nhập, V1 giao T1 tư vấn cho khách hàng được V1 chuyển tới. T1 sử dụng tài khoản zalo “Trung cấp quốc tế Sài gòn S2”, đăng ký bằng sdt 05383448888 để tư vấn cho khách có nhu cầu cấp chứng chỉ, không cần học nghề, không thi sát hạch với giá 700.000 đồng-1000.000 đồng/1 chứng chỉ và chuyển thông tin vào nhóm “KTST” để nhân viên Trường K1, làm ra các chứng chỉ từ các phôi đã được T1 ký sẵn. Người mua chứng chỉ trả qua chuyển phát thu hộ hoặc trả vào tài khoản 79799688 mở tại ngân hàng A. Để lưu thông tin những khách đã bán chứng chỉ làm cơ sở tính tiền hưởng với V1, T1 gửi thông tin khách từ zalo “Trung cấp Quốc tế Sài gòn” sang zalo “Thành” đăng ký bằng số điện thoại 0929.616.xxx (đều do T1 sử dụng).

Đối với Trường K1, Cơ quan điều tra không thu giữ được các thông tin trên Website quản lý cấp chứng chỉ nên không xác định được chứng chỉ bán ra. Tài liệu điều tra xác định được 15 chứng chỉ (Trong đó không có chứng chỉ mang tên Đặng Văn H4).

Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt Mai Ngọc V1 13 năm tù về tội “Giả mạo trong công tác” quy định tại khoản 4 Điều 359 BLHS và 4 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của Cơ quan tổ chức” quy định tại khoản 3, Điều 341 Bộ luật hình sự. Trương Đức T1 3 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của Cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 3 Điều 341 BLHS.

Tại bản cáo trạng số: 300/CT - VKS - TPTH ngày 11/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá đã truy tố Cao Thị L về tội: “sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 BLHS; bị cáo Viên Thị H về tội: “sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 BLHS

Tại phiên tòa đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 341; Điều 17; Điều 58; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với Cao Thị L; khoản 1 Điều 341; Điều 17; Điều 58; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với Viên Thị H.

Về hình phạt VKS đề nghị xử phạt:

  • Cao Thị L từ 24 – 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 – 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Xử phạt Viên Thị H 35.000.000 đồng là hình phạt chính để nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Viên Thị H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện VKS.

Trong phần tranh luận, Luật sư bào chữa cho bị cáo Cao Thị L thừa nhận VKSND thành phố Thanh Hoá truy tố Cao Thị L là đúng người, đúng tội, đúng điều khoản. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ gồm: người phạm tội là phụ nữ có thai, thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn. Ngoài ra Cao Thị L có hoàn cảnh có hoàn cảnh khó khăn, là lao động tự do có thu nhập thấp, đang trực tiếp nuôi con nhỏ, chồng đã ly hôn, bản thân đang bị bệnh hiểm nghèo, tình trạng sức khoẻ kém. Do đó Luật sư đề nghị áp dụng Điều 50; điểm s, n, h khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 BLHS và xử phạt bị cáo mức án thấp nhất dưới khung hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Cao Thị L thống nhất với nội dung bào chữa của Luật sư, không có ý kiến tranh luận gì khác.

Ý kiến đối đáp của đại diện VKS: Hành vi phạm tội của Cao Thị L đã xâm phạm vào khách thể là trật tự quản lý hành chính, đến hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan, tổ chức nên không có thiệt hại vật chất cụ thể xảy ra. Do đó người bào chữa đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo là không có căn cứ chấp nhận. Về mức hình phạt VKS đề nghị là hoàn toàn phù hợp vì khung hình phạt tại khoản 2 Điều 341 BLHS từ 02 đến 05 năm tù.

Lời nói sau cùng các bị cáo: Các bị cáo Cao Thị L, Viên Thị H đề nghị Toà án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, tuy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Do nhu cầu muốn xin việc làm vào Công ty TNHH S1, nhưng Viên Thị H và Phạm Thị H2 đều chưa tốt nghiệp Trung học phổ thông nên H và H2 đã nhờ Cao Thị L

liên hệ làm bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả để xin việc thì được L đồng ý. L lên mạng tìm kiếm thông tin và liên hệ với một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) nhờ làm 02 bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả cho H và H2 sau đó hướng dẫn H, H2 nộp hồ sơ xin việc vào công ty TNHH S1. Ngày 10/9/2018 H2 được nhận vào làm, nhưng ngày 15/11/2018 H2 tự ý nghỉ việc và chấm dứt hợp đồng lao động. Ngày 14/12/2020 H được nhận vào làm, đến ngày 08/02/2021 H bị Công ty chấm dứt hợp đồng lao động.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của Cao Thị L có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo điểm b khoản 2 Điều 341 BLHS; Hành vi của Viên Thị H có đủ các yếu tố cấu thành tội “sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 BLHS như cáo trạng của VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố các bị cáo là đúng.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, đến hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức và cá nhân gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Các bị cáo biết và nhận thức rõ việc sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng muốn có đủ điều kiện để xin việc làm, các bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó tính chất vụ án là nghiêm trọng cần phải xử lý nghiêm minh

Trong vụ án này Cao Thị L 02 lần liên hệ, đặt mua bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả và hướng dẫn để Viên Thị H; Phạm Thị H2 xin việc vào Công ty TNHH S1. Mặc dù thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Thị H2 đã hết, nhưng theo quy định tại khoản 3 Điều 27 BLHS thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Cao Thị L được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới (liên hệ, đặt mua bằng cho Viên Thị H năm 2020). Do đó Cao Thị L phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”. Viên Thị H 01 lần sử dụng bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả để xin việc vào Công ty TNHH S1 nên H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Bị cáo Cao Thị L phạm tội là phụ nữ có thai tình tiết giảm nhẹ theo điểm

n khoản 1 Điều 51 BLHS; Viên Thị H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Cao Thị L còn bị bệnh U ác của phổi và phế quản, sức khoẻ yếu nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS.

Luật sư bào chữa cho Cao Thị L đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn theo điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS cho Cao Thị L là không có căn cứ chấp nhận. Bởi hành vi phạm tội của Cao Thị L thuộc nhóm tội về quản lý hành chính, không có thiệt hại vật chất cụ thể xảy ra.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Cao Thị L có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Nên việc cách ly bị cáo là không cần thiết, mà áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đối với Viên Thị H phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng, nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 35 BLHS để phạt bị cáo một khoản tiền là hình phạt chính để nộp ngân sách nhà nước cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Đối với Phạm Thị H2 cung cấp thông tin nhờ Cao Thị L liên hệ làm bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả để xin việc vào Công ty TNHH S1. Ngày 10/9/2018 H2 được nhận vào làm việc (được coi là ngày thực hiện hành vi phạm tội), tính đến ngày 20/9/2023 (ngày tố giác tội phạm) đã quá 05 năm, hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không xử lý hình sự đối với Phạm Thị H2.

Đối với Trương Trọng G, Đặng Văn H4 là người nhờ Cao Thị L xin việc. Quá trình điều tra xác định H4 và G không biết việc L tự ý sử dụng thông tin của H4 trong bộ hồ sơ xin việc H4 đưa cho L để liên hệ làm chứng chỉ lái xe nâng giả cho H4. Do đó, hành vi của G và H4 không vi phạm pháp luật.

Đối với 02 chủ số thuê bao số 0987.165.947 và 0964.390.249 mà Cao Thị L khai L2 đã sử dụng liên hệ với L để làm bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông giả cho H và H2. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc nhưng những người này khai không biết, không liên quan đến việc làm bằng giả, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi của Cao Thị L đã tự ý lấy thông tin của Đặng Văn H4 cung cấp thông tin làm giả 01 chứng chỉ sơ cấp lái xe nâng của T2 kinh tế, kỹ thuật S cấp cho Đặng Văn H4, có dấu hiệu tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tuy nhiên Cao Thị L đã bị khởi tố về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Mặt khác, sau khi làm giả chứng chỉ này, L không đưa chứng chỉ cho H4 sử dụng, cũng như không sử dụng vào bất kỳ mục đích nào, chưa gây hậu quả, nên chưa đủ cơ sở xem xét.

Đối với hành vi của Trương Đức T1 và Mai Ngọc V1 làm giả 01 chứng chỉ sơ cấp

lái xe nâng của T2 kinh tế, kỹ thuật S cấp cho Đặng Văn H4, do đây là một chuỗi hành vi T1 và V1 đã bàn bạc, thống nhất và cùng thời điểm T1, V1 đã bị xử lý tại Bản án số 04/2024/HSST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, đã áp dụng khung hình phạt cao nhất để quyết định hình phạt đối với T1 và V1. Do đó không tiếp tục xử lý T1 và V1 trong vụ án này là phù hợp.

[4] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí HSST theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 341 BLHS đối với Cao Thị L; khoản 1 Điều 341 BLHS đối với Viên Thị H; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 BLHS đối với các bị cáo; Điều 35, điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS đối với Viên Thị H; Điều 65; điểm n khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với Cao Thị L; Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Cao Thị L, Viên Thị H phạm tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.

Xử phạt:

  • Cao Thị Loan 2 (hai tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Cao Thị L cho UBND phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • Xử phạt Viên Thị H 35.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSNDTPTH;
  • - Công an TPTH;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TPTH;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Văn Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về hình sự (sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger