Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ÂN THI

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST

Ngày 28 tháng 8 năm 2024

“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Chử

Bà Nguyễn Thị Kim Huyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Minh Khôi – Thư ký TAND huyện Ân Thi

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Hảo - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Ân Thi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 07 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 14/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1977 (vắng mặt)

- Bị đơn: Chị Dương Thị H, sinh năm 1978 (vắng mặt)

HKTT: Thôn Q, thị trấn Â, huyện Â, tỉnh Hưng Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn T và các lời khai của anh T, chị H trong quá trình tố tụng thể hiện:

Anh T và chị H quen biết, tìm hiểu sau đó lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn  vào năm 2019. Sau khi cưới, chị H về nhà anh T làm ăn chung sống. Những năm đầu kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận vui vẻ, đến khoảng năm 2020 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo anh T là do vấn đề về kinh tế, vay nợ nhiều nên vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi. Mặc dù đã hàn gắn nhưng tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Tháng 03/2022, chị H tự ý bỏ nhà đi không nói với ai và không liên lạc gì với anh T. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không quan hệ, liên hệ với nhau nữa. Anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã nghiêm trọng, không thể hàn gắn được nữa vì vậy anh đề nghị Tòa giải quyết cho anh và chị H ly hôn. Còn theo chị H thì năm 2001, chị sinh được con gái tên là Nguyễn Thị N. Sau đó, chị không còn khả năng sinh đẻ nữa, từ đó vợ chồng nảy sinh mẫu thuẫn, tình cảm vợ chồng dần vơi dần đi. Anh T thường xuyên rượu chè và đánh đập chị suốt một thời gian dài, có lần chị bị đánh phải nhập viện. Đến tháng 04/2022, chị phải bỏ đi để giữ lại mạng sống. Chị xác định không thể nào hàn gắn để chung sống với anh T. Vợ chồng đã sống ly thân mấy năm nay. Do vậy, chị cũng đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho ly hôn với anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị N, sinh năm 2001, chị N đã lập gia đình nên anh chị không đề nghị Toà giải quyết.

Về vấn đề tài sản chung, công nợ: Anh T, chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Lời khai của người làm chứng:

- Anh Dương Văn H1 - anh trai chị H: Anh T và chị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 1999. Sau khi thành vợ chồng, chị H về nhà anh T chung sống. Vợ chồng chị H phát sinh mâu thuẫn cách đây khoảng 10 năm. Nguyên nhân là do việc làm ăn kinh tế, anh T nhiều lần đánh đập chị H. Phía gia đình anh H1 cũng có ý kiến thì anh T xin lỗi và cam kết không đánh chị H nữa, nhưng sau đó sự việc vẫn tái diễn. Anh T không thay đổi cách xử sự với chị H. Khoảng năm 2021, chị H đã bỏ đi làm ăn xa không chung sống với anh T nữa. Đến nay, chị H xác định không thể quay về chung sống với anh T được nữa. Nếu anh T có yêu cầu ly hôn thì đề nghị Toà án giải quyết theo quy định. Về con chung thì anh T chị H chỉ có 01 con chung là Nguyễn Thị N, sinh năm 2001. Hiện nay, cháu N đã đi xây dựng gia đình. Anh H1 chỉ biết chị H hiện nay đang đi làm ăn ở khu vực phía Nam, nay chỗ nay, mai chỗ khác không có chỗ ở cố định.

- Bà Nguyễn Thị Y - chị gái anh T: Anh T và chị H qua người giới thiệu quen biết và tìm hiểu nhau một thời gian thì báo cáo gia đình, hai bên tổ chức cưới cho anh chị theo phong tục tập quán địa phương. Anh T chị H lấy nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn  năm 1999. Sau khi tổ chức cưới xong thì chị H về chung sống cùng anh T và bố mẹ chồng, tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Mấy năm trở lại đây thì vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không biết chị H làm ăn gì dẫn đến nợ nần nhiều khiến cho vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi nhau. Năm 2022, chị H bảo đi làm ăn nhưng từ đó đến nay chị H không về nữa và cũng không liên lạc với gia đình, vợ chồng ly thân hơn 02 năm nay. Anh T chị H chỉ có một con chung là Nguyễn Thị N sinh năm 2001 đã lập gia đình có cuộc sống riêng.

Việc xác minh với chính quyền địa phương: Anh T, chị H được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn  vào năm 1999. Sau khi kết hôn, chị H về chung sống cùng gia đình anh T ở thôn Q, trị trấn Â. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Mấy năm gần đây, theo nguồn tin của người dần thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Chị H đã bỏ đi khỏi địa phương mấy năm nay, địa phương không năm được chị H đi đâu, làm gì. Anh T, chị H có 01 con chung là Nguyễn Thị N, sinh năm 2001, đã kết hôn. Hiện nay, anh T chị H vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương.

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

  • * Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký
  • - Đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48, 51 BLTTDS.
  • * Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:
  • - Đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  • * Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
  • - Nguyên đơn, người làm chứng: Đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
  • - Bị đơn: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng vắng mặt không có lý do vi phạm khoản 15, 16 Điều 70, Điều 72 BLTTDS.
  • * Về đường lối giải quyết.
  • - Về căn cứ pháp luật: Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228, Điều 238 BLTTDS; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
  • - Về việc giải quyết các vấn đề phải giải quyết trong vụ án:
    • + Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh T và chị H
    • + Về con chung: Không
    • + Về tài sản chung, công sức, công nợ: Không xem xét giải quyết
  • - Về án phí: anh T, chị H phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn là anh Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với chị Dương Thị H. Vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đều có hộ khẩu thường trú tại thị trấn Â, huyện Â, tỉnh Hưng Yên, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc thụ lý, giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa anh T và chị H đều vắng mặt, nhưng trước đó, anh chị đã có đơn đề nghị Tòa xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ vào Điều 227, Điều 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

[2.1] Về việc kết hôn: Anh T và chị H xây dựng vợ chồng trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Â, huyện Â, tỉnh Hưng Yên vào năm 1999 đảm bảo các điều kiện về kết hôn. Do vậy, hôn nhân nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Khi một bên có yêu cầu ly hôn sẽ áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết.

[2.2] Về mâu thuẫn vợ chồng: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự cũng như người làm chứng là hai bên gia đình đều thừa nhận vợ chồng anh T và chị H có mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng được xác định là do vợ chồng mâu thuẫn về kinh tế nên hay xảy ra cãi nhau. Tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, cuộc sống hôn nhân không được như ý và không thể hàn gắn được. Anh T còn đánh đập chị H dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt. Vợ chồng đã ly thân nhau từ đầu năm 2022 đến nay không ai quan tâm đến ai. Anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh T kiên quyết xin ly hôn, chị H nhất trí ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng mục đích hôn nhân không đạt được và cũng không thể kéo dài được nữa, anh chị đã thuận tình ly hôn. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T là phù hợp với pháp luật và phù hợp với thực tế cuộc sống vợ chồng.

[3] Về con chung: Anh T, chị H có một con chung là Nguyễn Thị N SN 2001, chị N đã có gia đình riêng và tự lập được cuộc sống nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về tài sản chung, công nợ: Anh T, chị H không yêu cầu Tòa giải quyết.

[5] Về án phí: Anh T tự nguyện chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228, Điều 238 BLTTDS; Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 11 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/05/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Dương Thị H.
  2. Về con chung và tài sản, công nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
  3. Về án phí: Anh T tự nguyện chịu cả 150.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000826 ngày 15 tháng 07 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ân Thi. Trả lại anh T 150.000đồng.
  4. Quyền kháng cáo: Anh Thắng, chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Ân Thi;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Ân Thi;
  • - UBND thị trấn Ân Thi;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên về ly hôn

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger