TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày 28/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Cường và Ông Vũ Đức Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Ninh- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST - HS ngày 14 tháng 06 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXX-HSST ngày 18 tháng 06 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Lê Văn C; Giới tính: Nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 17/10/1973, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Mai Thị V; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Trịnh Thị H sinh năm 1977. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 15/4/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Duy T1 ; Giới tính: Nam; tên gọi khác: không; sinh ngày 01/07/1979, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay :thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Con ông Lê Duy N (đã chết) và bà Bùi Thị V1; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Hồ Thị M - sinh năm 1977 và có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 15/4/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H. Có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến: Anh Đinh Văn V2 - sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn Y, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.( Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 09/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phối hợp với Công an xã H đang làm nhiệm vụ tại đoạn đường thuộc khu vực thôn Y, xã H, huyện H thì phát hiện thấy Lê Văn C và Lê Duy T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tang vật thu giữ gồm: Thu giữ tại tay trái của C đang cầm 02 (hai) gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn, C và T1 khai nhận là ma túy loại Heroine tàng trữ để sử dụng chung nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang được niêm phong theo quy định .
Quá trình điều tra, các bị can khai nhận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/4/2024, T1 đến nhà C ngồi chơi uống nước, quá trình ngồi chơi với nhau, C hỏi T1 “còn tiền không góp đi kiếm tý về chơi” (ý C hỏi T1 còn tiền góp để C đi mua ma tuý về sử dụng), T1 đồng ý và đưa cho C 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, cả hai đi đến ngã ba thôn Y, xã H, huyện H, T1 đứng ngoài đường đợi, còn C góp thêm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) một mình đến nhà chị Đặng Thị N1 (sinh năm: 1976, trú tại thôn H, xã H, huyện H) hỏi mua 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) được 02 (hai) gói ma túy rồi quay lại chỗ T1 để cùng đi tìm nơi sử dụng, khi T1 và C đi đến đoạn đường thuộc thôn Y, xã H, huyện H thì bị tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phối hợp với Công an xã H phát hiện, bắt quả tang.
Tiến hành khám xét nơi ở của Lê Văn C và chị Đặng Thị N1 không thu giữ được gì .
Tại bản kết luận giám định số 1508/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,278g (không phẩy hai bảy tám gam) loại Heroine (H)
* Tại bản cáo trạng: 33/CT-VKSHL ngày 14/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Lê Văn C và Lê Duy T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về các tội danh, điều luật nêu trên. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả đối với hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) của các bị cáo đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Lê Văn C và Lê Duy T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17, Điều 38; Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C từ 13 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (09/04/2024).
Bị cáo Lê Duy T1 từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (09/04/2024).
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
Trong vụ án này, đối với chị Đặng Thị N1, quá trình điều tra không có đủ căn cứ xác định chị N1 đã bán ma túy cho các bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không có đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy một phong bì dán màu trắng dán kín chứa mẫu vật còn lại sau giám định.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
Về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng trên.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai báo và nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời trình bày của những người chứng kiến, phù hợp với nội dung của các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. HĐXX, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 09/04/2024 tại đoạn đường thuộc khu vực thôn Y, xã H, huyện H. Lê Văn C và Lê Duy T1 đang cất giấu 02 gói ma túy thì bị tổ công tác của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H phối hợp với Công an xã H phát hiện, bắt quả tang lập biên bản đối với Lê Văn C và Lê Duy T1, thu giữ và niêm phong tang vật theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số: 1508/KL - KTHS ngày 12/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,278g (không phẩy hai bảy tám gam) loại Heroine.
Như vậy, hành vi của Lê Duy T1 và Lê Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3]. Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo Lê Văn C, Lê Duy T1 đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội; hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, cũng là mối hiểm họa làm suy đồi đạo đức, lối sống, gây nguy hại cho thể chất và tinh thần của con người, làm thui chột thế hệ tương lai và còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội pham khác. Do vậy, cần phải được xét xử nghiêm minh theo quy định của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
Hội đồng xét xử nhận thấy, trong vụ án này bị cáo C và bị cáo T1 cùng cố ý thực hiện một tội phạm nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó bị cáo C là người rủ rê bị cáo T1 góp tiền mua ma túy để sử dụng và đi mua ma túy, nên bị cáo C có vị trí, vai trò thứ nhất. còn bị cáo T1 góp tiền cùng với bị cáo C mua ma túy để sử dụng chung, nên có vị trí, vai trò thứ hai trong vụ án.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Trong vụ án các bị cáo Lê Văn C và Lê Duy T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Lê Văn C và Lê Duy T1 đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo C đã thể hiện sự ăn năn, hối cải và có mẹ là bà Mai Thị V3 đang hưởng chính sách huân huy chương, gia đình có công với cách mạng; Bị cáo T1 có mẹ là bà Bùi Thị V1 được tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt: Do vậy, từ những nhận định trên, HĐXX cần lên cho mỗi bị cáo một mức hình phạt tù nghiêm phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo. Song HĐXX cũng xem xét đến tình tiết giảm nhẹ TNHS mà các bị cáo được hưởng để lượng giảm cho các bị cáo một phần hình phạt và lên cho các bị cáo một mức hình phạt ngang nhau (do bị cáo C tỏ rõ sự ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự) để các bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề lao động tự do thu nhập không ổn định. Do đó, HĐXX không áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
[6]. Về vật chứng: HĐXX nhận thấy, một phong bì màu trắng dán kín chứa mẫu vật còn lại sau giám định. Cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7]. Tại phiên tòa HĐXX nhận thấy: Bản cáo trạng, quyết định truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là phù hợp, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với các bị cáo tại cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, lời nói sau cùng của các bị cáo xin HĐXX xử phạt mức án thấp để các bị cáo chấp hành và cải tạo tốt, sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, làm công dân chấp hành pháp luật tốt. Đối với người chứng kiến: trình bày trung thực những tình tiết mà mình chứng kiến theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến.
[8]. Về án phí: Buộc các bị cáo Lê Văn C, Lê Duy T1 phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 38; Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Văn C và Lê Duy T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (09/04/2024).
Bị cáo Lê Duy T1 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (09/04/2024).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật sau giám định, ghi Phòng K Công an tỉnh T, có đóng 07 dấu đỏ và ký tên (Lê Minh T2, Trần Thị Thúy H1 và Phạm Văn Q. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/06/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Các bị cáo Lê Văn C và Lê Duy T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Văn Tuyển |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
