|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/DS-ST
Ngày 17/4/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lục Viết Sang
2. Bà Lục Thị Lan
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoa - Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 17/4/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐST- DS ngày 21/3/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ: B L, phường T, quận B, Hà Nội
- Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn huyện N. Địa chỉ: Số A, đường H, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Quang V vụ: Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn Đ bộ ngân hàng (có mặt)
- Bị đơn: Bà Trần Thị C năm 1965 (vắng mặt)
Chị Trần Thị K năm 1994 (vắng mặt)
Địa chỉ: Bản V, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, ông Đặng Văn Đ1 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 31 tháng 5 năm 2022, bà Trần Thị C1 ký Hợp đồng tín dụng số: 2508LAV202201420/HĐTD ngày 31/5/2022, vay của Ngân hàng N - chi nhánh huyện Y tiền vay là: 100.000.000 đồng, mục đích: chăn nuôi. Thực hiện hợp đồng được ký giữa các bên, ngân hàng đã giải ngân cho bà C2 số tiền 100.000.000 đồng ngày 31/5/2022 tại báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ, bà C1 ký nhận, tại thời điểm nhận nợ quy định lãi suất tiền vay là 9,3%/năm, thời hạn cho vay là 12 tháng, khi đên hạn trả thì số tiền gốc phải trả: 100.000.000đ nhưng bà C3 trả. Quá trình thực hiện hợp đồng, từ khi vay đến hết ngày 28/2/2023 bà C1 thanh toán cho Ngân hàng số tiền 7.019.589 đồng trả vào tiền lãi. Sau đó bà C không trả gốc và lãi lần nào nữa, số tiền nợ đã chuyển quá hạn từ ngày 01/6/2023 theo mức lãi suất quá hạn ngân hàng quy định.
Như vậy, số tiền còn lại của hợp đồng tín dụng bà C5 Kphải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng là nợ gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn là tính từ ngày 31/5/2022 đến ngày 31/5/2023 mức lãi suất là 9,3% thì số tiền tiên trong hạn là 9.300.000 đồng, số tiền lãi quá hạn tính từ ngày 01/6/2023 đến nay 17/4/2024 với mức lãi suất là 13,95% với số tiền là 12.306.576 đồng. Số tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn là 21.606.576 đồng (sau khi đã trừ đi số tiền lãi mà bà C1 trả được là 7.019.589 đồng) = 14.586.987 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là là: 114.586.987 đồng và số lãi phát sinh từ ngày 18/4/2024 đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định của Achi nhánh B1 .
Đối với bị đơn bà Cchị K1 đang sinh sống tại địa phương nhưng Tòa án tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của TAND huyện Yên Thế đối với bà C5 K. Tại biên bản xác minh với T BVen và biên bản xác minh với Công an xã X, huyện Y: bà Cchị K2 cùng nhà và vẫn đăng ký hộ khẩu và cư trú tại: Bản V, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giangvà không làm thủ tục đăng ký chuyển hộ khẩu, bà C6 làm bãi, rừng, chị K3 làm công nhân. Tòa án đã gửi văn bản tố tụng và niêm yết đầy đủ văn bản tố tụng tại địa chỉ này. Như vậy Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn bà Cchị K4 không đến làm việc, vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Tại phiên tòa bà Cchị K5 mặt.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn huyện N đối với bà C5 K
- Buộc bà Cchị K6 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N1 nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn huyện N II tổng số tiền bà Cchị K6 trả số tiền 114.586.987 đồng.
- Bà Cchị K6 tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng 2508LAV202201420/HĐTD ngày 31/5/2022 đã ký kể từ ngày 18/4/2024 cho đến khi trả hết nợ. Về án phí: Bà Trần Thị C7 Trần Thị K7 chịu 5.729.349 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại đơn khởi kiện, ngân hàng khởi kiện đối với hợp đồng tín dụng nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn đối với bà Cchị K1 đang sinh sống tại địa phương. Tòa án đã gọi điện vào số điện thoại 0359.502.xxx bà C1 nghe điện thoại và xác nhận có nợ ngân hàng và trình bày qua điện thoại sẽ bảo chị K8 nợ ngân hàng. Bà C3 đến Tòa án để làm việc về các vấn đề có liên quan vụ án, không có văn bản trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Đối với chị KTòa án đã tiến hành các biện pháp xác minh nơi cư trú, xác minh địa chỉ theo pháp luật cố tình giấu địa chỉ mà không thông báo làm việc mới cho phía nguyên đơn theo khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 BLDS. Tòa án căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC lấy địa chỉ nơi cư trú trong hợp đồng tín dụng để tống đạt, niêm yết, xét xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng không đến làm việc, vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả số tiền đã cho vay đối với bà Trần Thị C năm 1965, chị Trần Thị K năm 1994. Địa chỉ: Bản V, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.Tòa án nhân dân huyện Yên Thế đã thụ lý giải vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng theo thủ tục tố tụng dân sự là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.
Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trong quá trình giải quyết vụ án không thu thập được lời khai của bị đơn nhưng theo lời khai của đại diện theo ủy quyền của ngân hàng Pvới Hợp đồng tín dụng số 2508LAV202201420/HĐTD ngày 31/5/2022, đã ký, giấy đề nghị giải ngân kiêmgiấy nhận nợ, thông báo chuyển nợ quá hạn ngày 01/6/2023 nội dung của văn bản đã thể hiện bà C, chị K có vay của ngân hàng số tiền là 100.000.000 đồng, mục đích vay chăn nuôi, lãi suất cho vay trong hạn là 9,3/%/ năm, lãi suất quá hạn là 13,95 %, thời hạn vay 12 tháng, khi đến hạn bà C7 Kkhông trả là vi phạm nghi vụ trả nợ. Số tiền bà C7 Kcòn nợ đã chuyển quá hạn từ ngày 01/6/2023 theo mức lãi suất quá hạn ngân hàng quy định. Nay Ngân hàng N1 nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn huyện N khởi kiện buộc bà C7 Kcó trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 100.000.000đ, tiền lãi trong hạn là tính từ ngày 31/5/2022 đến ngày 31/5/2023 mức lãi suất là 9,3% với số tiền là 9.300.000 đồng, số tiền lãi quá hạn tính từ ngày 01/6/2023 đến nay 17/4/2024 với mức lãi suất là 13,95% với số tiền là 12.306.576 đồng. Số tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn là 21.606.576 đồng (sau khi đã trừ đi số tiền lãi mà bà C1 trả được là 7.019.589 đồng)= 14.586.987 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là là: 114.586.987 đồng là có căn cứ chấp nhận. Ngoài ra, bà Cchị K6 tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng 2508LAV202201420/HĐTD ngày 31/5/2022 đã ký kể từ ngày 18/4/2024 cho đến khi trả hết nợ là phù hợp.
- Về trách nhiệm trả tiền: Chị K10 hợp đồng ủy quyền ngày 30/5/2022 được chứng thực hợp đồng ngày 31/5/2022 tại UBND xã X nội dung chị K11 ủy quyền cho bà C ký hợp đồng tín dụng với ngân hàng và Ngân hàng đã cho vay số tiền theo hợp đồng để phục vụ nhu cầu chăn nuôi vật nuôi của gia đình bà C, chị K12 sống chung với bà C8 khi vay cho đến nay nên bà Cchị K6 có trách nhiệm trả nợ số tiền đã vay của ngân hàng.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ngân hàng được chấp nhận nên bà Cchị K6 chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Ngân hàng N1 nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn huyện N được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Điều 470, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn huyện N đối với bà Trần Thị Cchị Trần Thị K13
Buộc bà Trần Thị C7 Trần Thị K7 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N1 nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn huyện N tổng số tiền là: 114.586.987 đồng (trong đó số tiền nợ gốc là 100.000.000đ, tiền lãi đến ngày 17/4/2024 là: 14.586.987 đồng).
- Bà Trần Thị C7 Trần Thị Ktiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng 2508LAV202201420/HĐTD ngày 31/5/2022 đã ký kể từ ngày 18/4/2024 cho đến khi trả hết nợ.
2. Về án phí: Bà Trần Thị C7 Trần Thị K7 chịu 5.729.349 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả lại Ngân hàng N1 nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn huyện N số tiền 2.650.000 đồng (do ông Đặng Văn Đ2) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0000396 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quy ền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Duyên |
Bản án số 27/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 27/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng kiện bà Chì
