|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HS-ST
Ngày 26 - 7 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Phước Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Thanh Phong.
Ông Lý Thanh Chiều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Quốc - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Tôn - Kiểm sát viên.
- Ông Trần Minh Chiến - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024. Phiên tòa trực tuyến được diễn ra tại 02 điểm cầu gồm:
Điểm cầu trung tâm: Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Đường H, ấp C, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Thành phần tham gia: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên được phân công giải quyết vụ án, bị hại.
Điểm cầu thành phần: Tại Nhà tạm giữ Công an nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng, địa chỉ: Ấp M, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Thành phần tham dự: Bị cáo, cán bộ, chiến sĩ tại Nhà tạm giữ và Kiểm sát viên được phân công hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Đào Văn Đ, sinh ngày 03 tháng 10 năm 1998, tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Văn N, sinh năm 1970 và bà Lê Thị Hồng G, sinh năm 1974; A, chị, em ruột có 03 người, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất là bị cáo; Vợ, con: Chưa có.
- Tiền sự: Không có.
- Tiền án: Không có;
Bị khởi tố ngày 19 tháng 02 năm 2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19 tháng 02 năm 2024, sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” từ ngày 30 tháng 4 năm 2024 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại:
1. Bà Lê Thị L, sinh năm 1970 (có mặt);
2. Ông Lê Văn T, sinh năm 1971.
Người đại diện hợp pháp của ông Lê Văn T: Bà Lê Thị L, là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền lập ngày 15/4/2024.
Nơi cư trú: Ấp M, Thị trấn H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Người làm chứng:
1. Anh Lưu Anh T1, sinh năm 2002 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
2. Anh Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1993 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, bị cáo Đào Văn Đ và Lưu Anh T1 đi đến chồi vịt thuộc ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng của bà Lê Thị L để chơi. Khi đến thì bà L có nhờ Đào Văn Đ và Nguyễn Thanh L1 (Đa) (là người giữ vịt cho bà L) đem hột vịt đến chồi vịt của bà Mười T2 để gửi bán giùm. Sau khi đem hột vịt xong, bị cáo Đ và L1 quay về, lúc này bị cáo Đ nói đói bụng nên bà L kêu Đ vào chồi vịt nấu mì ăn, khi vào chồi vịt bị cáo Đ nhìn thấy có 01 (một) hộp sữa nhãn hiệu Dielac có đậy nắp để trên giường ngủ nên bị cáo Đ mở ra xem thì phát hiện bên trong có 02 (hai) cái điện thoại di động gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 8Gb màu đen của bà L và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 prime màu vàng của ông Lê Văn T là của chồng bà L nên nảy sinh ý định chiếm đoạt 02 (hai) cái điện thoại nêu trên để bán lấy tiền trả nợ, lúc này bị cáo Đ dùng tay phải lấy 02 (hai) điện thoại bỏ vào túi áo khoát của bị cáo Đ, sau đó bị cáo Đ đi ra ngoài và nói không đói rồi đi về nhà của T1. Khi về đến nhà của T1, bị cáo Đ điều khiển xe mô tô đi đến một tiệm điện thoại ở gần khu Công nghiệp A thuộc xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng và bán 02 (hai) cái điện thoại đã lấy trộm tại chồi vịt của bà L được số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), sau đó bị cáo Đ lấy số tiền này đi trả nợ cho một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mà bị cáo Đ đã vay trước đó. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, bà L vào chồi vịt kiểm tra thì phát hiện 02 (hai) cái điện thoại để trong hộp sữa đã bị mất nên đến Công an xã M trình báo sự việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện M, kết luận:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 prime mua cũ vào tháng 11 năm 2023 với giá 500.000 đồng.
+ Giá khảo sát: 450.000 đồng, hàng đã qua sử dụng.
+ Thành tiền: 450.000 đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 mua mới vào ngày 01/12/2023 với giá 5.490.000 đồng.
+ Giá khảo sát: 4.990.000 đồng.
+ Giá trị còn lại: 80%
+ Thành tiền: 3.992.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản được định giá là: 4.442.000 đồng (bốn triệu, bốn trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
- Tại Cáo trạng số: 26/CT-VKS-MT ngày 01 tháng 7 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Đào Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa sơ thẩm:
Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Đào Văn Đ. Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên phân tích tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đ, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo mức án từ 04 (bốn) tháng đến 05 (năm) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đào Văn Đ phải chịu 200.000 đồng.
Bị cáo Đào Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Trình bày tranh luận, bị cáo Đ thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không trình bày tự bào chữa. Lời nói sau cùng bị cáo Đ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại bà Lê Thị L và ông Lê Văn T đã được bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả, không yêu cầu bị cáo Đ bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại nên các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, người làm chứng anh Lưu A T1 và anh Nguyễn Thanh L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của anh T1 và anh L1 không gây cản trở cho việc xét xử, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra cũng đã tiến hành lấy lời khai của những người này nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiến hành xét xử vắng mặt đối với người làm chứng anh Lưu A T1 và anh Nguyễn Thanh L1.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Đào Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận rằng: Vào khoảng 06 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, tại chồi vịt của bà Lê Thị L thuộc ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Đào Văn Đ đã có hành vi lén lút lấy trộm 02 (hai) cái điện thoại di động gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 8Gb màu đen của bà Lê Thị L và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 prime màu vàng của ông Lê Văn T.
[4] Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện M, kết luận:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 prime mua cũ vào tháng 11 năm 2023 với giá 500.000 đồng.
+ Giá khảo sát: 450.000 đồng, hàng đã qua sử dụng.
+ Thành tiền: 450.000 đồng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A58 mua mới vào ngày 01/12/2023 với giá 5.490.000 đồng.
+ Giá khảo sát: 4.990.000 đồng.
+ Giá trị còn lại: 80%
+ Thành tiền: 3.992.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản được định giá là: 4.442.000 đồng (bốn triệu, bốn trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
[5] Bị cáo Đào Văn Đ là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo lại có hành vi trộm cắp tài sản của người khác, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản người khác được pháp luật bảo vệ và còn gây ảnh hưởng xấu tình hình trật tự tại địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo Đào Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[6] Như vậy, Cáo trạng số: 26/CT-VKS-MT ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Đào Văn Đ tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[7] Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chínhhành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
- b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
- đ) Tài sản là di vật, cổ vật.
- 2. ...”.
[8] Hành vi của bị cáo Đào Văn Đ là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản người khác được pháp luật bảo vệ và còn gây ảnh hưởng xấu tình hình trật tự tại địa phương nên cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hậu quả mà bị cáo đã gây ra để bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm Hiến pháp và pháp luật.
[9] Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét toàn diện về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Đào Văn Đ như sau: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại với số tiền 4.442.000 đồng; bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; bị cáo có ông ngoại tên Lê Quang N1 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì và bà ngoại tên Văn Thị C1 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba, đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[10] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Đào Văn Đ đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, hiện tại bị cáo có thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lê Thị L và ông Lê Văn T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[12] Về xử lý vật chứng: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[13] Kiểm sát viên đề nghị áp dụng pháp luật về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo Đào Văn Đ là có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo Đ ra khỏi đời sống xã hội trong thời gian hợp lý để giáo dục, cải tạo bị cáo Đ trở thành công dân tốt, đồng thời để tuyên truyền, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, bị cáo Đ có 03 (ba) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như đã nêu trên nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đ thấp hơn khung hình phạt để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với những ai đã lầm lỗi biết ăn năn, hối cải, xử phạt bị cáo Đ trong khung hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp.
[14] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Đào Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, khoản 1 Điều 293, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Tuyên phạt bị cáo Đào Văn Đ 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/4/2024.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đào Văn Đ.
4. Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
5. Về xử lý vật chứng: Không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
6. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Đào Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đoàn Phước Đạt |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn Đan phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2. Tuyên phạt bị cáo Đào Văn Đan 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/4/2024.
