Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26-4-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hậu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Bấm

Bà Nguyễn Thị Tư

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Huy - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Nhật H - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 245/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim H1; nơi cư trú: Số C đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Tạ Quang H2; nơi cư trú: Số C đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; hiện bị tuyên bố mất tích theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích số 08 ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H1 vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và chị vẫn giữ nguyên ý kiến như trong đơn khởi kiện và bản tự khai như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Tạ Quang H2 kết hôn trên cơ sở tự nguyện được sự đồng ý của hai bên gia đình, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận N, thành phố Hải Phòng ngày 18/8/2009. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hoà thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm sống và tính cách vợ chồng không phù hợp, dẫn đến không khí gia đình luôn luôn căng thẳng, bất hoà. Đến tháng 12/2010 thì anh H2 bỏ đi không có thông tin liên lạc gì về gia đình. Một mình chị phải nuôi con và chăm sóc gia đình. Ngày 28/9/2023, Toà án nhân dân quận Ngô Quyền đã tuyên bố anh Tạ Quang H2 mất tích theo quyết định số 08/2023/QĐST-DS. Từ đó đến nay chị và gia đình vẫn không có thông tin gì của anh H2. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh H2, khả năng đoàn tụ gia đình không còn. Chị đề nghị Toà án cho chị được ly hôn anh Tạ Quang H2.

Về con chung: Chị và anh Tạ Quang H2 có 01 con chung là Tạ Trang A, sinh ngày 09/7/2010. Từ khi anh H2 bỏ đi, tôi một mình nuôi cháu, anh H2 không có thông tin gì. Vì vậy khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi cháu Tạ Trang A đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Tạ Quang H2 vắng mặt, đã bị tuyên bố mất tích theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích số 08 ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền.

Tòa án đã xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương và ý kiến gia đình anh Tạ Quang H2 thể hiện: Vợ chồng chị H1 và anh H2 chung sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn, hai bên luôn xảy ra bất hoà. Từ cuối năm 2010, anh H2 đã bỏ nhà đi đến nay vẫn không có tin tức gì. Toà án đã ra quyết định tuyên bố mất tích đối với anh H2. Nay, chị H1 có đơn ly hôn với anh Tạ Quang H2, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về phía gia đình của anh H2 đề nghị Toà án cho chị H1 được ly hôn với anh H2. Về con chung: Chị H1 và anh H2 có một con chung là Tạ Trang A, sinh ngày 09 tháng 7 năm 2010, từ khi anh H2 bỏ nhà đi chị H1 là người chăm sóc, dạy dỗ con chung nên đề nghị Toà án giao con cho chị H1 nuôi dưỡng. Về việc chia tài sản, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, vi phạm quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị Kim H1 được ly hôn với anh Tạ Quang H2; về việc nuôi con: Giao con chung là Tạ Trang A, sinh ngày 09/7/2010 cho chị H1 nuôi; nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con, chị H1 không yêu cầu nên không xem xét giải quyết; về việc chia tài sản chung chị H1 không yêu cầu nên không xem xét giải quyết; chị H1 phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1] Đây là quan hệ pháp luật về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Tạ Quang H2 có nơi cư trú cuối cùng tại địa bàn quận N nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn anh Tạ Quang H2 đã bị tuyên bố mất tích theo quyết định số 08/2023/QĐST-DS ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền. Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà vì vậy Toà án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về pháp luật nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

[3] Chị Nguyễn Thị Kim H1 và anh Tạ Quang H2 lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 18/8/2009 tại Ủy ban nhân dân phường L, quận N, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng chị H1 và anh H2 hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống, tính cách. Từ cuối năm 2010 anh H2 đã bỏ đi biệt tích không liên hệ gì với gia đình. Chị H1 đã tìm kiếm anh H2 bằng nhiều biện pháp nhưng không có kết quả nên đã yêu cầu Toà án tuyên bố anh Tạ Quang H2 mất tích. Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 08/2023/QĐST-DS ngày 28/9/2023, Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tuyên bố anh Tạ Quang H2 mất tích. Từ đó đến nay, gia đình và địa phương không có tin tức gì của anh.

3

[5] Xét mâu thuẫn của chị H1 và anh H2 đã trầm trọng, hai vợ chồng không có sự yêu thương, chăm sóc nhau, không còn quan hệ gì về tình cảm, độc lập về kinh tế; anh H2 đã bỏ đi sống nơi khác không còn quan tâm, liên lạc với chị H1 và các con. Vì vậy căn cứ Điều 51, khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cần giải quyết cho chị H1 được ly hôn với anh H2.

+ Về việc nuôi con:

[6] Chị Nguyễn Thị Kim H1 và anh Tạ Quang H2 có 01 con chung là Tạ Trang A, sinh ngày 09/7/2010. Xét thấy, anh Tạ Quang H2 đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, từ khi anh H2 bỏ đi cho đến nay, chị H1 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo cuộc sống cho con chung Tạ Trang A; bản thân cháu Tạ Trang A có nguyện vọng ở cùng với chị H1. Vì vậy căn cứ Điều 81,82,83 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị H1 về việc nuôi con: Giao con chung Tạ Trang A cho chị Nguyễn Thị Kim H1 nuôi cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị H1 không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

+ Về việc chia tài sản:

[7] Chị Nguyễn Thị Kim H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

+ Về án phí:

[8] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Kim H1 phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51; khoản 2 Điều 56; các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim H1.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim H1 được ly hôn với anh Tạ Quang H2.

2. Về việc nuôi con: Giao con chung là Tạ Trang A, sinh ngày 09/7/2010 cho chị Nguyễn Thị Kim H1 trực tiếp nuôi cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị H1 không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về việc chia tài sản: Chị Nguyễn Thị Kim H1 không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim H1 phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003040 ngày 05 tháng 2 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Kim H1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim H1, bị đơn anh Tạ Quang H2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Đương sự;
  • - UBND Lạch Tray, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng (ĐKKH ngày 18/8/2009);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hậu

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoa Huy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger