Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày: 26/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thân Thị Quyên

2. Bà Hoàng Thị Kim Liên

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đàm Hoàng Sơn – Chức vụ: Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Quang T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 06 năm 1975 tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: làm ruộng; Con ông: Dương Công T1, sinh năm 1950; Con bà: Hoàng Thị S sinh năm 1946; Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Phạm Thị C sinh năm 1981; Có 2 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006;

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024 cho đến nay, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T

(Có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt)

- Bà Phạm Thị C, sinh năm 1981 (có mặt)

Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1987; (vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

- Ông Hoàng Văn T3, sinh năm 1984; ( vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 02/01/2024, Công an xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại trước cửa quầy thuốc Trọng Quỳnh, có địa chỉ tại xóm T, xã Đ, huyện P đang có hai đối tượng nam giới có biểu hiện nghi vấn tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổ công tác của Công an xã Đ đã đến địa điểm nêu trên tiến hành kiểm tra, xác minh thì 01 đối tượng bỏ chạy thoát, đối tượng còn lại khai nhận là Dương Quang T và tự nguyện lấy từ trong tay phải ra 02 gói giấy màu trắng, loại giấy bì thư bên trong mỗi gói bì thư chứa một gói giấy bạc bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (theo T khai nhận là ma túy, loại H) giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng (niêm phong ký hiệu A), tạm giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen (niêm phong ký hiệu B), 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon da, màu sơn xanh, BKS 20L2-3437 sau đó bàn giao hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền.

Hồi 22 giờ 00 phút ngày 02/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phối hợp cùng Phòng K Công an tỉnh T, tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ của Dương Quang T, kết quả: Mở phong bì niêm phong A, bên trong có 02 gói giấy bì thư màu trắng, bên trong mỗi gói giấy bì thư có giấy bạc màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng, cân tổng khối lượng không bì là 0,338 gam và lấy toàn bộ làm mẫu giám định. (niêm phong ký hiệu A1).

Tại bản kết luận giám định số 166/KL-KTHS ngày 10/01/2024, của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong bì thư niêm phong ký hiệu Al gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,338 gam”.

Tại cơ quan điêu tra Dương Quang T khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 02/01/2024, T điều khiển xe mô tô BKS 20L2-3437 chở Nguyễn Văn D, nhà ở xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên của T đến khu vực xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy mang về cùng nhau sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực xã B thì gặp một người đàn ông (T không biết tên, tuổi, địa chỉ). T đưa cho D 200.000 đồng, với mục đích để mua ma túy cho cả hai về cùng sử dụng. D nhận tiền từ T, sau đó đưa cho người đàn ông vừa gặp. Người này cầm tiền và bán cho D 02 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bì thư màu trắng, bên trong là giấy bạc màu trắng. Sau khi mua được ma túy, T điều khiển xe mô tô chở D về, khi đi đến trước cửa hàng thuốc tại xóm T, xã Đ, huyện P thì D đưa ma túy cho T cầm rồi đi vào cửa hàng thuốc mua xi lanh để cả hai sử dụng ma túy. Khi T đang đợi D ở trước cửa hàng thuốc thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng như nêu trên, còn D đã bỏ chạy thoát.

Căn cứ lời khai của T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã xác định được đối tượng là Nguyễn Văn D. Tiến hành triệu tập, lấy lời khai của D nhưng D không thừa nhận hành vi cùng với T đi mua ma túy về sử dụng như nêu trên.

Vật chứng của vụ án: 01 bì thư niêm phong còn nguyên vẹn, ký hiệu A1, bên trong có chứa 0,338 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu. 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu B1, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiêu Oppo màu đen cũ đã qua sử dụng, 01 xe mô tô BKS: 20L2-3437. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện P chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 32/CT-VKSPB, ngày 25/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố Dương Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo là đúng người đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Dương Quang T từ 24 - 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong còn nguyên vẹn, ký hiệu Al, bên trong có chứa 0,326 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.

Tạm giữ 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu B1, bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiêu Oppo màu đen cũ đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô BKS: 20L2-3437, xe cũ đã qua sử dụng.

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòabị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai nhận của Dương Quang T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có căn cứ xác định:

Hồi 16 giờ 10 phút, ngày 02/01/2024 tại trước cửa quầy thuốc Trọng Quỳnh, có địa chỉ tại xóm T, xã Đ, huyện P, Dương Quang T đang có hành vi tàng trữ 0,038 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã Đ, huyện phú B phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Nội dung điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ...

c) Heroine .. có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. "

Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội do bị cáo thiếu lao động, tu dưỡng nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu bản thân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo có nhân thân tốt. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt:

Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần có có mức án nghiêm khắc để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng. Xét thấy mức hình phạt từ 24 đến 30 tháng tù mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong còn nguyên vẹn, ký hiệu A1, bên trong có chứa 0,326 gam mẫu Al còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.
  • Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu B1 chứa 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Oppo màu đen đã qua sử dụng;
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại KRSR màu sơn xanh gắn BKS 20L2-3437 là tài sản của Dương Quang T, bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[7] Về án phí, quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Về nguồn gốc hai gói ma túy Heroine nêu trên,

T khai nhận cùng D đi mua ma túy của một người đàn ông T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể là gì, tại đường xã B, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không đủ cơ sở, căn cứ xác minh làm rõ và xử lý đối với đối tượng này.

Đối với Nguyễn Văn D, quá trình điều tra xác định được là Nguyễn Văn D (Sinh năm 1969, trú tại: xóm Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên) nên Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập, lấy lời khai nhưng D không thừa nhận việc đi cùng T đi mua ma túy như T khai nhận. Tiến hành đối chất lời khai của D và T, D vẫn khẳng định không cùng T đi mua ma túy vào ngày 02/01/2024. Do đó không có đủ căn cứ để xử lý đối với D.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ áp dụng pháp luật:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; các Điều 329, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Về tội danh và hình phạt:

2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Quang T 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo công tác thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1, bên ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,326 gam mẫu Al còn lại sau giám định và vỏ bao gói;
  • Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho Dương Quang T 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu B1 chứa 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Oppo màu đen cũ, đã qua sử dụng của Dương Quang T, số IMEI: 43738 (năm số cuối);
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại KRSR màu sơn xanh gắn BKS 20L2-3437, số khung: RLHHC 09084Y378992, số máy: HC09E3079014, dung tích xilanh: 97cm³, đăng ký 27/10/2005, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, khi giao nhận xe không kiểm tra tình trạng bên trong xe và săm lốp bên ngoài xe cũ đã qua sử dụng (có kèm 01 chìa khóa xe).

(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2024 giữa Công an huyện P với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình).

4. Án phí:

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQS14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Dương Quang T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo T và bà Phạm Thị C có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Ông D vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc được niêm yết tại địa phương

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - CCTHADS huyện Phú Bình;
  • - Công an huyện Phú Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Đỗ Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Dương Quang Thao phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger