|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày: 26-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tiến Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Hạnh;
Ông Bồ Quốc Khánh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Đức Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Hữu Ngọc - Kiêm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966, tại Bình Dương. Hộ khẩu thường trú: Khu phố A, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Chỗ ở: Xã T, huyện B, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn K, sinh năm 1938 (Đã chết) và bà Tống Thị M, sinh năm 1942, Vợ Trần Thị C (không đăng ký kết hôn), có 01 người con, sinh năm 2007 (Đã chết).
Tiền án: Không;
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Bản án hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 13/8/1985 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên (nay là thành phố T) tỉnh Bình Dương xử phạt 19 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”.
Bản án hình sự sơ thẩm số 03/HSST ngày 15/01/1988 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên (nay là thành phố T) xử phạt 36 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân".
Bản án hình sự sơ thẩm số 03/HSST ngày 15/01/1992 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”.
Bản án hình sự phúc thẩm số 1456/HSPT ngày 01/12/1994 của Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”, 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 06 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, buộc chấp hành chung của cả 03 tội là 08 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt còn lại 03 năm 04 tháng 15 ngày tù
tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/HSST ngày 15/01/1992 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, buộc Nguyễn Văn Đ chấp hành hình phạt chung là 11 năm 10 tháng 15 ngày tù.
Bản án hình sự sơ thẩm số 101/HS-ST ngày 17/9/2004 của Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một (nay là thành phố T) xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2018/HS-ST ngày 10/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/4/2023 đến ngày 15/4/2023 được hủy bỏ Quyết định tạm giữ. Ngày 06/8/2023, bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, bị cáo có mặt.
Bị hại: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1977. Địa chỉ thường trú: Ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương. Chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ E, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 2002. Địa chỉ: Tổ E, khu phố P, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Nguyễn Thị Bé C1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số A, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người làm chứng: Bà Lê Thị H2, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 13/4/2023, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 61L6-9003 đến nhà của Vũ Thị H tại ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương để tìm bà H. Lúc này bà H đang ở trong nhà tắm thì nghe tiếng Đ gọi, bà H nói Đ ngồi đợi bà H. Đ đi vào bên trong nhà và đi đến khu vực nhà tắm. Đ nhìn thấy trên máy giặt phía trước nhà tắm có tiền và 02 điện thoại di động. Đ đến chỗ máy giặt, lấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5 màu vàng đồng và số tiền 2.000.000 đồng bỏ vào túi áo. Sau khi lấy được tiền, Đ đi ra ngoài lấy xe mô tô 61L6 - 9003 điều khiển về nhà tại ấp X, xã T, huyện B. Bà H tắm xong đi ra thì phát hiện đã bị mất 2.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5 màu vàng đồng nên dùng xe mô tô truy tìm người chiếm đoạt nhưng không kịp. Sau đó Bà H đến trình báo cho Công an xã T về sự việc nêu trên.
Công an xã T tiến hành làm việc với Nguyễn Văn Đ và tạm giữ các đồ vật từ Nguyễn Văn Đ, gồm:
- 01 điện thoại di động hiệu S J5 màu vàng đồng;
- 01 cái bóp da màu nâu, không nhãn hiệu và số tiền 3.600.000 đồng (để bên trong bóp da màu nâu).
- 01 xe mô tô biển số 61L6-9003.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 55/KLHĐ-ĐGTS ngày 30/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện B xác định: 01 điện thoại di động S J5 bị chiếm đoạt trị giá 500.000 đồng.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5 màu vàng đồng và số tiền 2.000.000 đồng là tài sản của Vũ Thị H bị chiếm đoạt trong vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại cho Vũ Thị H.
Đối với 01 bóp da màu nâu, không nhãn hiệu và số tiền 1.600.000 đồng là tài sản cá nhân của Nguyễn Văn Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại cho Nguyễn Văn Đ.
Đối với 01 xe mô tô biển số 61L6-9003 do bà Nguyễn Thị Bé C1, sinh năm: 1986, nơi thường trú: Phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu, bà C1 đã bán xe mô tô trên cho một người phụ nữ không rõ nhân thân, lại lịch vào khoảng năm 2012 nên không có yêu cầu gì. Nguyễn Văn Đ khai mượn xe mô tô trên của bà Nguyễn Thị G (em gái của Nguyễn Văn Đ) để đi lại; bà G đã chết vào ngày 30/9/2021. Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1996 và bà Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 2002 (là con của bà G) đều xác nhận bà G có mua xe mô tô trên và cho Nguyễn Văn Đ mượn để đi lại. Cơ quan Công an Cơ quan CSĐT Công an huyện B trả lại xe mô tô biển số 61L6-9003 cho ông Nguyễn Minh H1 tiếp tục quản lý.
Về dân sự: Bà Vũ Thị H đã nhận lại số tài sản bị chiếm đoạt và được bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 2.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm.
Cáo trạng số 41/CT-VKS.BTU ngày 07/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đ. Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có trình độ học vấn thấp là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 07 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với 01 bóp da màu nâu, không nhãn hiệu và số tiền 1.600.000 đồng là tài sản cá nhân của Nguyễn Văn Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại cho Nguyễn Văn Đ.
Đối với 01 xe mô tô biển số 61L6-9003 do bà Nguyễn Thị Bé C1, sinh năm: 1986, nơi thường trú: Phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu, bà C1 đã bán
xe mô tô trên cho một người phụ nữ không rõ nhân thân, lại lịch vào khoảng năm 2012 nên không có yêu cầu gì. Nguyễn Văn Đ khai mượn xe mô tô trên của bà Nguyễn Thị G (em gái của Nguyễn Văn Đ) để đi lại; bà G đã chết vào ngày 30/9/2021. Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1996 và bà Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 2002 (là con của bà G) đều xác nhận bà G có mua xe mô tô trên và cho Nguyễn Văn Đ mượn để đi lại. Cơ quan Công an Cơ quan CSĐT Công an huyện B trả lại xe mô tô biển số 61L6-9003 cho ông Nguyễn Minh H1 tiếp tục quản lý.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ cho rằng Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi: quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[2] Về nội dung vụ án Hội đồng xét xử xét thấy:
Ngày 13/4/2023, tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J5, trị giá 500.000 đồng và số tiền 2.000.000 đồng của bà Vũ Thị H, sinh năm 1977, địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Tổng trị giá tài sản mà Nguyễn Văn Đ chiếm đoạt là 2.500.000 đồng.
Như vậy, Cáo trạng số 41/CT-VKS.BTU ngày 07/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, bị cáo đã thực hiện tội phạm mà không quan tâm đến sự trừng phạt của pháp luật. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, do đó, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Đ không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân bị cáo có trình độ học vấn thấp là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, sớm ổn định lại làm của mình, an tâm tái tạo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Xét thấy, mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với 01 bóp da màu nâu, không nhãn hiệu và số tiền 1.600.000 đồng là tài sản cá nhân của Nguyễn Văn Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả lại cho Nguyễn Văn Đ.
Đối với 01 xe mô tô biển số 61L6-9003 do bà Nguyễn Thị Bé C1, sinh năm: 1986, nơi thường trú: Phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu, bà C1 đã bán xe mô tô trên cho một người phụ nữ không rõ nhân thân, lại lịch vào khoảng năm 2012 nên không có yêu cầu gì. Nguyễn Văn Đ khai mượn xe mô tô trên của bà Nguyễn Thị G (em gái của Nguyễn Văn Đ) để đi lại; bà G đã chết vào ngày 30/9/2021. Ông Nguyễn Minh H1, sinh năm 1996 và bà Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm 2002 (là con của bà G) đều xác nhận bà G có mua xe mô tô trên và cho Nguyễn Văn Đ mượn để đi lại. Cơ quan Công an Cơ quan CSĐT Công an huyện B trả lại xe mô tô biển số 61L6-9003 cho ông Nguyễn Minh H1 tiếp tục quản lý.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 08 (T) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/4/2023 đến ngày 15/4/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tài sản đã trả lại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Tiến Lợi |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản - Nguyễn Văn Đ
