TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST Ngày 25-8-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hoài Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Mỹ
- Ông Nguyễn Văn Cương
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Liễu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1993; địa chỉ: số C, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Vương Minh T1, sinh năm 1980; địa chỉ: B E, Haltom City TX G, Hoa Kỳ; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/4/2023 và bản tự khai đề ngày 10/5/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương T trình bày:
Bà T và ông Vương Minh T1 gặp gỡ, tìm hiểu và phát sinh tình cảm với nhau và tự nguyện đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2014, quyển số 02/2013, ngày 17/02/2014. Sau khi đăng ký kết hôn thì ông T1 ở lại Việt Nam trong 01 tháng và sau đó thì trở về nước Mỹ sinh sống, làm việc. Từ năm 2014 cho đến tháng 4/2021 ông T1 có về thăm bà T một vài lần, từ tháng 5/2021 cho đến nay thì cả hai không còn gặp lại nhau và không còn giữ liên lạc do xảy ra mâu thuẫn, cải vả và bất đồng quan điểm sống. Vì khoảng cách địa lý xa xôi, sự chênh lệch về múi giờ nên cả hai ít tâm sự, quan tâm, chia sẻ với nhau, dẫn đến tình cảm ngày càng lạnh nhạt, xa cách. Nhận thấy tình cảm vợ chồng cũng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T xin yêu cầu ly hôn với ông Vương Minh T1.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: bà T và ông Vương Minh T1 không có con chung, tài sản chung, nợ chung nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với ông Vương Minh T1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật để tống đạt cho ông Vương Minh T1 các văn bản như: Đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 12/4/2023 của bà Nguyễn Thị Phương T; Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2014, quyển số 02/2013, ngày 17/02/2014 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp; Công văn số 05/TA-GĐ ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc yêu cầu bị đơn có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Thông báo thụ lý vụ án số 10/TB-TLVA ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (đã được dịch thuật sang tiếng Anh). Ông Vương Minh T1 nhận được các văn bản nêu trên vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 12/6/2023, nhưng không có ý kiến gửi Tòa án và vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Hôn nhân giữa bà T và ông Vương Minh T1 là hợp pháp. Vợ chồng kết hôn nhưng không chung sống với nhau từ năm 2014 đến nay, vợ chồng sống ly thân và cả hai không còn liên lạc, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Từ năm 2014 cho đến tháng 4/2021 ông T1 có về thăm bà T một vài lần, từ tháng 5/2021 cho đến nay thì cả hai không còn gặp lại nhau và không còn giữ liên lạc do cả hai xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, bất đồng. Do công việc và khoảng cách địa lý xa xôi, sự chênh lệch về múi giờ nên cả hai ít tâm sự, quan tâm, chia sẻ với nhau, dẫn đến tình cảm ngày càng lạnh nhạt; vợ chồng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm nên mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn và ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Phương T và ông Vương Minh T1 đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2014, quyển số 02/2013, ngày 17/02/2014 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp. Bà T hiện đang cư trú tại địa chỉ tạm trú: số C, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Do đó, theo quy định tại các Điều: 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình và các Điều: 28, 37, 40 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
[1.2] Về sự có mặt của các đương sự: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã thực hiện thủ tục Ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật để tống đạt cho ông Vương Minh T1 các văn bản (đã được dịch thuật) như: Đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 12/4/2023 của bà Nguyễn Thị Phương T; Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2014, quyển số 02/2013, ngày 17/02/2014 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp; Công văn số 05/TA-GĐ ngày 26/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc yêu cầu bị đơn có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Thông báo thụ lý vụ án số 10/TB-TLVA ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, theo đó ông Vương Minh T1 đã được thông báo thời gian, địa điểm mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông Vương Minh T1 không gửi văn bản cho Tòa án và vắng mặt tại các phiên tòa như đã thông báo. Bà Nguyễn Thị Phương T có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều: 227, 228, 238, 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Phương T và ông Vương Minh T1 tự nguyện tìm hiểu, kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2014, quyển số 02/2013, ngày 17/02/2014 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cả hai chung sống một khoản thời gian ngắn đến năm 2020 thì vợ chồng không chung sống với nhau do cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Cho đến nay, cả hai không còn liên lạc với nhau. Bà T xác định không còn tình cảm với ông Vương Minh T1 và có đơn khởi kiện ly hôn ông Vương Minh T1. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt trực tiếp theo quy định của pháp luật cho ông Vương Minh T1 qua dịch vụ bưu chính chuyển phát nhanh quốc tế và ông Vương Minh T1 đã nhận được các văn bản tố tụng nêu trên của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương vào ngày 12/6/2023 nhưng đến nay, ông Vương Minh T1 vẫn không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T; do đó, đây là việc ông Vương Minh T1 từ bỏ quyền tham gia tố tụng tại Tòa án.
Xét, yêu cầu ly hôn của bà T thấy rằng: theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”. Tuy nhiên tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông Vương Minh T1 thể hiện cả hai không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau, không chung sống cùng nhau một thời gian dài. Vì vậy có căn cứ xác định mục đích hôn nhân giữa bà T và ông Vương Minh T1 không đạt được, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, vì quyền lợi chung của hai bên nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông Vương Minh T1 là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Phương T xác định không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp pháp luật.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chi phí ủy thác tư pháp và chi phí dịch thuật: Bà Nguyễn Thị Phương T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều: 19, 51, 56, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ các Điều: 28, 37, 40, 147, 153, 227, 228, 238, 266, 271, 273, khoản 1 Điều 474, 477, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phương T đối với ông Vương Minh T1 về việc “tranh chấp ly hôn”.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phương T được ly hôn ông Vương Minh T1.
- - Về con chung: không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
- - Về tài sản chung, nợ chung: không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Phương T phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000442, ngày 20/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.
- Về chi phí tố tụng (chi phí dịch thuật văn bản và chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài): Bà Nguyễn Thị Phương T phải chịu 5.560.000 (năm triệu, năm trăm sáu mươi nghìn) đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp. bà T đã thực hiện xong.
Bà Nguyễn Thị Phương T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông Vương Minh T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Hoài Trí |
Bản án số 27/2023/HNGĐ-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 27/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
