|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST Ngày 25 - 4 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Dương
- Ông Bùi Quốc Kiên
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Vân Ánh - Là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Q - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 242/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/10/2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 04 năm 2024 của TAND thị xã Nghi Sơn giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị H - Sinh năm 1986
- Bị đơn: Anh Nguyễn Viết T - Sinh năm 1979
Cùng nơi cư trú: Thôn N, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Viết T đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Viết T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa ngày 30/6/2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy phát sinh, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra va chạm cãi vã, anh T nhiều lần uống rượu say về chửi bới và đánh chị, mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được. Tuy sống chung một nhà nhưng anh chị đã ly thân, không quan tâm đến nhau khoảng 01 năm nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Viết T.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là: Nguyễn Thị Thúy N, sinh ngày 08/01/2006 và Nguyễn Viết T1, sinh ngày 08/10/2009. Chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng tôi. Còn cháu N hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên chị không yêu cầu tòa án giải quyết. Hiện tại chị H làm công nhân, thu nhập khoảng 6.000.000đ/tháng.
Về tài sản và công nợ: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Viết T trình bày như sau:
Về hôn nhân: Anh và chị Lê Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T (nay là thị xã N), tỉnh Thanh Hóa ngày 30/6/2004. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do có những lúc vợ chồng bất đồng quan điểm, anh thừa nhận có lần anh đi uống rượu say về đánh vợ, tuy nhiên sau đó anh đã sửa chữa nhưng vợ không ghi nhận nên vợ chồng không hòa hợp được. Vợ chồng hiện vẫn sống chung một nhà nhưng đã ly thân khoảng 01 năm nay, không quan tâm đến nhau, chị H luôn tỏ ra khó chịu với anh. Anh biết tình cảm vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, nhưng anh không đồng ý ly hôn vì anh thương con nhỏ.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là: Nguyễn Thị Thúy N, sinh ngày 08/01/2006 và Nguyễn Viết T1, sinh ngày 08/10/2009. Cháu N hiện đã thành niên và có gia đình riêng nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Còn cháu T1 còn nhỏ, nếu vợ chồng phải ly hôn thì cháu muốn ở với ai thì anh tôn trọng ý kiến của cháu. Hiện tại anh làm công nhân, thu nhập khoảng 8.000.000đ/tháng.
Kết quả xác minh tại địa phương: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Viết T kết hôn từ năm 2004, sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn N, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Đến năm 2020 anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T thường uống rượu, nhiều lần chửi, đánh chị H, đã có lần chính quyền thôn và công an xã phải khuyên giải và can ngăn.
Tại phiên tòa, chị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh T để chị ổn định cuộc sống. Anh T không đồng ý ly hôn.
Đại diện VKS phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Quá trình thiết lập hồ sơ vụ án, Thẩm phán, HĐXX và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định tại điều 48,49,51 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại điều 70,71,72 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ các Điều 51,56,57,58,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H, cho Chị H được ly hôn anh T; về con chung: Giao cháu T1 cho Chị H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị nên HĐXX không xem xét. Về tài sản và công nợ: Anh chị không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Xét yêu cầu của chị Lê Thị H:
[2.1] Về hôn nhân:
Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thị xã N, Thanh Hóa ngày 30/6/2004 như vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị đều thừa nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, đã có lần anh T thường say rượu về chửi bới và đánh chị H, chính quyền địa phương phải đến can ngăn, hòa giải nhưng không được. Chứng tỏ hôn nhân giữa Chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy việc Chị H yêu cầu được ly hôn anh T là có cơ sở, phù hợp với quy định tại các Điều 51,56 của Luật hôn nhân gia đình nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là: Nguyễn Thị Thúy N, sinh ngày 08/01/2006 và Nguyễn Viết T1, sinh ngày 08/10/2009. Cháu N hiện đã thành niên và có gia đình riêng nên HĐXX không xem xét. Cháu T1 trình bày nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì cháu xin ở với mẹ. Xét thấy anh chị đều có sức khỏe, công việc và thu nhập ổn định và có khả năng nuôi con tốt, tuy nhiên cháu T1 đã trên 7 tuổi, cần tôn trọng ý kiến của cháu để đảm bảo tâm lý ổn định và sự phát triển tốt cho cháu. Vì vậy, giao cháu T1 cho chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Mặc dù chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Vì vậy, buộc anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) là phù hợp với điều kiện, mức chi tiêu nuôi dưỡng con cái tại địa phương và mức thu nhập của anh T.
[4] Về tài sản và vay nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn, bị đơn phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Khoản 2 Điều 21; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Tiểu mục 1.1, Mục 1, Phần II Danh mục án phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.
- Về hôn nhân: Cho Chị H được ly hôn anh T.
- Về con chung:
Anh chị có 02 con chung là: Nguyễn Thị Thúy N, sinh ngày 08/01/2006 và Nguyễn Viết T1, sinh ngày 08/10/2009.
Giao cháu Nguyễn Viết T1 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 05/2024 cho đến khi cháu T1 đủ 18 tuổi. Cháu N hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên hội đồng xét xử không xem xét.
Anh T được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0006890 ngày 05/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh T phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lê Thị H, bị đơn anh Nguyễn Viết T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Huyền |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Văn Dương |
Bùi Quốc Kiên |
Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thị xã N, Thanh Hóa ngày 30/6/2004 như vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị đều thừa nhận vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, đã có lần anh T thường say rượu về chửi bới và đánh chị H, chính quyền địa phương phải đến can ngăn, hòa giải nhưng không được. Chứng tỏ hôn nhân giữa Chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy việc Chị H yêu cầu được ly hôn anh T là có cơ sở, phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân gia đình nên được chấp nhận.
