|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày: 25/4/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lâm Thị Thu;
- Ông Phạm Minh Tâm.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chí Đông - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Quang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/HSST ngày 04/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lý T; giới tính: Nam; sinh năm 1999; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm thuê; hộ khẩu thường trú: 75/38 L, tổ A, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: Không có nơi cư trú nhất định; con ông Lý T1, sinh năm 1979 và bà Thạch Thị D, sinh năm 1981; anh chị em: Có hai anh em, lớn sinh năm:1999, nhỏ nhất sinh năm: 2003; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn T2; giới tính: Nam; sinh ngày 15 tháng 9 năm 2006; tại: Tỉnh Sóc Trăng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Bảo vệ; hộ khẩu thường trú: Ấp N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở trước khi bị bắt: Không có nơi cư trú nhất định; con ông: Không rõ; con bà: Nguyễn Thị Đậu E, sinh năm 1988; anh chị
em: Không; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không.
Các bị cáo Lý T, Nguyễn Văn T2 bị bắt tạm giam từ ngày 20/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam T30 - Công an Thành phố H - Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Huỳnh Quốc H, sinh năm: 2000.
Địa chỉ: 6 H, tổ C, khu phố E, phường T, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Văn T2: Bà Nguyễn Thị Đậu E, sinh năm: 1988.
Địa chỉ: ấp N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T2: Bà Trần Đồng Minh Ngọc Kim K – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 ngày 10/10/2023, Lý T trên đường về nhà, khi đi ngang qua cửa hàng dịch vụ cho thuê thiết bị âm thanh ánh sáng tại nhà không số, đường N, tổ A, ấp B, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Huỳnh Quốc H làm chủ. Thấy tại đây đang tổ chức tiệc mừng khai trương nên T nảy sinh ý định sẽ đến đây gặp anh H để thu tiền “ Bảo kê” hàng tháng. Do trước đó T biết anh H là thợ cắt tóc chỉ ở một mình nên thuận lợi cho việc thu tiền “ Bảo kê” từ anh H. T gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T2, rủ T2 đến cửa hàng của anh H để thu tiền “ Bảo kê”. T bàn với T2 là sẽ thu tiền Bảo kê” của anh H với số tiền 3.000.000 đồng/tháng thì T2 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô của T biển số 60V8-9720 chở T2 đến cửa hàng của anh H để thực hiện việc thu tiền “ Bảo kê”.
Khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, khi anh H đang đứng chờ xe Grab tại trước cửa hàng thì T điều khiển xe mô tô biển số 60V8-9720 chở T2 đến. T xuống xe đi đến chỗ anh H còn T2 vẫn ngồi trên xe, T nói với anh H “Mày cho lấy tiền bảo kê, khu này là khu của tao” thì anh H trả lời “Quán này là quán cho thuê âm thanh chứ có phải quán K2 gì đâu mà thu bảo kê”. Lúc này tài xế xe Grap cũng vừa đến, thấy vậy anh H đến chỗ xe Grap định lên xe thì T cũng đi theo cùng, T đưa tây tắt chìa khóa xe của tài xế và nói “Ông chở thằng H đi là tôi đánh chết mẹ ông luôn” nên tài xế xe Grap bỏ đi. T tiến sát đến anh H để tiếp tục đòi tiền bảo kê nên anh H đẩy T ra thì T dùng tay phải đánh vào vùng mặt bên trái anh H
làm anh H lùi lại, T tiếp tục lao vào dùng tay trái đánh thêm 01 cái nhưng anh H tránh được. Ngay lúc này, T nhặt 01 cục gạch bằng xi măng (dài 20cm, rộng 8cm, cao 4cm) cầm trên tay phải tiếp tục lao vào đánh anh H nhưng anh H giữ được tay của T và cả hai giằng co với nhau. Tay trái T nắm lấy ngực áo anh H còn tay phải cầm cục gạch đè vào bên trái mặt của anh H đe dọa nên anh H hoảng sợ nói “Giờ lấy nhiêu?”, T trả lời “Năm trăm”, anh H lấy trong túi đang đeo ra 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) đưa cho T, T lấy tờ tiền cho vào túi quần bên trái rồi quay lại xe chở T2 bỏ đi. Tiền cướp được của anh H, T mua thức ăn và ma túy về cùng T2 sử dụng tại nhà của T. Ngày 12/10/2023 anh H đến Công an xã P trình báo sự việc. Công an xã P tiếp nhận nguồn tin phối hợp với Cơ quan điều tra tiến hành làm rõ vụ việc. Ngày 19/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lý T và Nguyễn Văn T2 về tội ” Cướp tài sản”. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, L và Nguyễn Văn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận của các bị can phù hợp với lời khai nhận của bị hại và vật chứng thu giữ.
* Vật chứng vụ án:
- 01 (một) cục gạch bằng xi măng, dài 20cm, rộng 8cm, cao 4cm.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J7 Pro, số seri R58K32MGGQF, số IMEI 1: 356202093364869, số IMEI 2: 356203093364867.
- 01 (một) xe mô tô biển số 60V8-9720, số khung RRKWCHOUM5XA16743, số máy VTTJL1P52FMHW016743, màu sơn Đỏ.
- 01 (một) đôi dép quai kẹp, màu Xám.
- 01 (một) áo thun ngắn tay, màu Trắng.
- 01 (một) quần Jean dài, màu Đen.
* Về dân sự: Bị hại anh Huỳnh Quốc H đã nhận được tiền bồi thường 500.000 đồng từ các bị cáo, anh H đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T và T2.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số: 04/CT-VKS-NB ngày 08/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè đã truy tố bị cáo Lý T phạm tội “ Cướp tài sản” thuộc trường hợp sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung 2017 và truy tố bị cáo Nguyễn Văn T2 phạm tội “ Cướp tài sản” theo quy định
tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b,h, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lý T từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 từ 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù.
- Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cục gạch bằng xi măng, dài 20cm, rộng 8cm, cao 4cm; 01 (một) đôi dép quai kẹp, màu Xám; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu Trắng; 01 (một) quần Jean dài, màu Đen.
Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J7 Pro, số seri R58K32MGGQF, số IMEI 1: 356202093364869, số IMEI 2: 356203093364867; 01 (một) xe mô tô biển số 60V8-9720, số khung RRKWCHOUM5XA16743, số máy VTTJL1P52FMHW016743, màu sơn Đỏ.
- Về dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường của các bị cáo và không có yêu cầu nào khác trong vụ án nên không đề nghị xem xét.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T2 bà Trần Đồng Minh Ngọc K1 trình bày: Thống nhất về tội danh và khung hình phạt của bị cáo T2 như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè. Tuy nhiên, bị cáo T2 không có cha, thiếu sự quan tâm giáo dục từ gia đình, bị cáo chưa thành niên nên dễ bị bạn bè lôi kéo phạm tội, thiệt hại không thực tế không đáng có, bị cáo có vai trò không lớn trong vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T2.
Các bị cáo khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận, bị cáo T2 thống nhất với lời bào chữa của các luật sư và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ,
toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Do cần tiền tiêu xài nên Lý T và Nguyễn Văn T2 đã bàn bạc, thống nhất thu tiền “ Bảo kê” từ anh Huỳnh Quốc H chia nhau tiêu xài. Vào khoảng 22 giờ 30 ngày 10/10/2023, tại trước cửa hàng dịch vụ cho thuê thiết bị âm thanh ánh sáng, nhà không số, đường N, tổ A, ấp B, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh, Lý T trực tiếp dùng tay và cục gạch bằng xi măng đánh anh Huỳnh Quốc H để chiếm đoạt số tiền 500.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Các bị cáo phạm tội là do lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, thể hiên sự coi thường pháp luật và gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương, hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng. Do đó, cần phải được xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Đối với bị cáo Lý T: Bị cáo dùng tay đánh vào vùng mặt bên trái anh H, sau đó tiếp tục dùng cục gạch bằng xi măng là phương tiện nguy hiểm để tấn công bị hại. Bị cáo T vừa có vai trò là chủ mưu vừa là người thực hành. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” quy
định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
[3.2] Đối với bị cáo Nguyễn Văn T2: Bị cáo cùng bàn bạc và thống nhất ý chí với bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo T2 không phải là người trực tiếp dùng cục gạch bằng xi măng tấn công bị hại nên bị cáo T2 chịu trách nhiệm về cùng một tội danh mà đồng phạm thực hiện nhưng không chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người thực hành. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo T đã thành niên, nhận thức được đầy đủ tính chất, mức độ của hành vi nhưng vẫn cố tình thực hiện. Khi nảy sinh ý định phạm tội, T3 đã rủ rê, lôi kéo bị cáo Nguyễn Văn T2 cùng thực hiện hành vi. Tính đến thời điểm các bị cáo phạm tội, bị cáo T2 chưa đủ 18 tuổi nên bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 “Xúi dục người chưa đủ 18 tuổi phạm tội”.
Bị cáo T2 không có tình tiết tăng nặng.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ:
Các bị cáo đã chủ động bồi thường cho bị hại. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo ăn năn hối cải, thực tế gây thiệt hại không lớn nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ngoài ra, bị cáo T2 chưa thành niên, nhận thức còn hạn chế, dễ bị bạn bè xúi dục, vai trò của bị cáo là không đáng kể đồng thời bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T2. Do đó, Hội đồng xét xử đồng quan điểm với luật sư bào chữa cho bị cáo T2, áp dụng khoản 2 Điều 51 xem xét giảm nhẹ hình phạt trong quá trình lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, không có nguồn thu nhập ổn định, hiện đang bị tạm giam, do đó Hội đồng xét xử xem xét không buộc bị cáo phải chịu phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) cục gạch bằng xi măng, dài 20cm, rộng 8cm, cao 4cm, không
có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J7 Pro, số seri R58K32MGGQF, số IMEI 1: 356202093364869, số IMEI 2: 356203093364867, là tài sản của bị cáo T, T sử dụng điện thoại để liên lạc rủ T2 thu tiền bảo kê của bị hại. Đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 (một) xe mô tô biển số 60V8-9720, số khung RRKWCHOUM5XA16743, số máy VTTJL1P52FMHW016743, màu sơn Đỏ, là tài sản của bị cáo T, T sử dụng để chở T2 đến nhà không số, đường N, tổ A, ấp B, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh nhằm mục đích thu tiền bảo kê. Đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 (một) đôi dép quai kẹp, màu Xám; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu Trắng, 01 (một) quần Jean dài, màu Đen. Đây là tài sản của bị cáo T, tại phiên tòa bị cáo T không có yêu cầu được nhận lại, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường của các bị cáo và không có yêu cầu nào khác trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lý T và bị cáo Nguyễn Văn T2 phạm tội “Cướp tài sản".
1.1 Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lý T 7 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2023.
1.2 Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91, 101 và các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/10/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, 107 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
2.1 Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) cục gạch bằng xi măng, dài 20cm, rộng 8cm, cao 4cm, tình trạng đã qua sử dụng;
- 01 (một) đôi dép quai kẹp, màu Xám, tình trạng đã qua sử dụng;
- 01 (một) áo thun ngắn tay, màu Trắng, tình trạng đã qua sử dụng;
- 01 (một) quần Jean dài, màu Đen, tình trạng đã qua sử dụng.
2.2 Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J7 Pro, số seri R58K32MGGQF, số IMEI 1: 356202093364869, số IMEI 2: 356203093364867, tình trạng đã qua sử dụng;
- 01 (một) xe mô tô biển số 60V8-9720, số khung RRKWCHOUM5XA16743, số máy VTTJL1P52FMHW016743, màu sơn Đỏ, tình trạng đã qua sử dụng.
(Theo phiếu nhập kho số 2024-NK019 ngày 8 tháng 1 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè).
3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án các bị cáo, bị hại, người đại điện theo pháp luật và người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T2 được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị D1 |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CƯỚP TÀI SẢN
