Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN.

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trình Văn Út.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Ngô Thị Nguyệt.
  • 2/ Bà Võ Thị Minh Phương.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Dung - Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Ngày 24/7/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc xin ly hôn, con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1990; Địa chỉ cư trú: Nhà số B, ấp A, xã T, thị xã K, tỉnh Long An (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Võ Minh R, sinh năm 1987; Địa chỉ cư trú: Nhà số A, ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị M và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày: Sau thời gian tìm hiểu Bà với ông R yêu thương nhau và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2008 nhưng đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M (nay là thị xã K), hôn nhân tự nguyện không ai ép buộc. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc những năm đầu khi cưới, thời gian sau không được hạnh phúc tình cảm vợ chồng bị rạn nứt đến năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau nên mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Vì vậy, bà M làm đơn đến Tòa án yêu cầu giải quyết cho bà ly hôn với ông R trả tự do cho nhau và được Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường ra Quyết định số 46/2015/QĐST-HNGĐ ngày 06/11/2015 công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận thuận của các đương sự. Sau khi có quyết định đến năm 2017 bà M và ông R hàn gắn trở lại xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng bà M và ông R không đăng ký lại việc kết hôn theo quy định của pháp luật. Đến năm 2021 tình cảm vợ chồng lại tiếp tục phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống và mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn không còn điều kiện, khả năng để hàn gắn trở lại hiện tại hai người sống ly từ năm 2021 đến nay. Vì vậy, bà M làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông R trả tự do cho nhau.

Về con chung: Thời gian chung sống từ khi cưới đến năm 2015 bà M và ông R có một người con tên Võ Minh Bảo N, sinh ngày 21/12/2008, giới tính: nam. Năm 2017 bà M và ông R hàn gắn trở lại chung sống với nhau có một người con chung tên Võ Thị Bảo T, sinh ngày 23/02/2018, giới tính: nữ. Hiên nay ông R trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục từ năm 2021 đến nay. Khi ly hôn bà M đồng ý tiếp tục giao hai người con chung cho ông R trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà M không phải cấp dưỡng nuôi con do ông R không yêu cầu.

Về tài sản chung: Bà M và ông R xác định không có không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Bà M và ông R cam kết không có không yêu cầu giải quyết.

Sau khi nhận được đơn khởi kiện của bà M, Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định. Tòa án đã ra thông báo về việc thụ lý vụ án số 69/TB-TLVA ngày 01/7/2024 và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 01/7/2024.

Tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ông R trình bày: Ông với bà M cưới nhau vào năm 2008 nhưng đến năm 2009 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2015 phát sinh mâu thuẫn nên hai người đã ly hôn. Đến năm 2017 Ông với bà M hàn gắn trở lại xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng không đăng ký lại việc kết hôn. Trong thời gian hai người chung sống với nhau lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn nên hai người sống ly từ năm 2021. Nay bà M xin ly hôn và giao hai người con chung cho Ông trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đồng ý. Còn tài sản chung và nợ chung thống nhất như lời trình bày của bà M. Tuy nhiên, hai bên thống nhất thỏa toàn bộ việc giải quyết vụ án nhưng bà M với ông R không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

  1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1990; Địa chỉ cư trú: Nhà số B, ấp A, xã T, thị xã K, tỉnh Long An khởi kiện đối với Võ Minh R, sinh năm 1987; Địa chỉ cư trú: Nhà số A, ấp T, xã B, thị xã K, tỉnh Long An. Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường thụ lý giải quyết là phù hợp với Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử ông Võ Minh R có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử vắng mặt ông R là phù hợp với quy định của pháp luật tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

  1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1990 ông Võ Minh R sinh năm 1987 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017 có đủ điều kiện kết hôn, nhưng bà M và ông R không đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Do đó, trường hợp này cần phải căn cứ vào Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận bà Nguyễn Thị M với ông Võ Minh R là vợ chồng.
  2. Về con chung: Tại phiên Tòa bà Nguyễn Thị M đồng ý tiếp tục giao hai người con tên Võ Minh Bảo N, sinh ngày 21/12/2008, giới tính: nam và Võ Thị Bảo T, sinh ngày 23/02/2018, giới tính: nữ cho ông Võ Minh R trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà M không phải cấp dưỡng nuôi con do ông R không yêu cầu. Xét thấy, yêu cầu của bà M là hoàn toàn tự nguyện đúng với nguyện vọng của hai con. Mặt khác, ông R nuôi dưỡng cháu N và T từ năm năm 2021 đến nay hai cháu vẫn phát triển bình thường như bao trẻ khác. Do đó, chấp nhận yêu cầu của bà M tiếp tục giao hai người con tên Võ Minh Bảo N, sinh ngày 21/12/2008, giới tính: nam và Võ Thị Bảo T, sinh ngày 23/02/2018, giới tính: nữ cho ông Võ Minh R trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  3. Về tiền cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con do ông Võ Minh R không yêu cầu.
  4. Về tài sản chung: Bà M và ông R xác định không có không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về nợ chung: Bà M và ông R cam kết không có không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Về án phí: Theo quy định bà Nguyễn Thị M phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53 và từ Điều 81 đến Điều 87 của Luật hôn nhân và gia đình, điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị M với ông Võ Minh R là vợ chồng.

Về con chung: Tiếp tục giao hai người con tên Võ Minh Bảo N, sinh ngày 21/12/2008, giới tính: nam và Võ Thị Bảo T, sinh ngày 23/02/2018, giới tính: nữ cho ông Võ Minh R trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Nguyễn Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con do ông Võ Minh R không yêu cầu.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0003295 ngày 01/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bà Nguyễn Thị M biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng ông Võ Minh R được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND thị xã;
  • - Chi cục THADS thị xã;
  • - UBND xã Thạnh Trị;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trình Văn Út

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN về xin ly hôn, con chung

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger