Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 27/2024/HS-PT

Ngày: 24 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thư

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Nga

Bà Đinh Thị Quý Chi

Thư ký phiên tòa: Ông Mai Chí Thọ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thi – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2023/TLPT-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Minh T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Minh T, sinh năm 1998, tại: Hải Dương; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân D, sinh năm 1959 và con bà Nguyễn Thị D1 sinh năm 1961; nơi đăng ký thường trú: ấp Đ, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Kp S, P. T, TP ., tỉnh Bình Phước; bị cáo có 04 anh, chị, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: không.

Tiền sự: Ngày 07/11/2022, bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo đã đóng phạt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2022 cho đến nay.

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác, nhưng những người này không có kháng cáo, không bị Viện kiểm sát kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 18/10/2022, Phạm Thị Thu N (không rõ nhân thân) điện thoại cho Nguyễn Minh T nói đang dư một ít ma tuý, cho T sử dụng nhân dịp sinh nhật thì T đồng ý. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T tổ chức sinh nhật tại quán R thuộc thành phố Đ, tỉnh Bình Phước nên T mời một số bạn bè đến tham gia, N đến dự sinh nhật và đưa cho T 01 gói nylon bên trong có 02 gói nylon nhỏ bên trong chứa ma tuý, T cầm gói nylon cất vào trong túi quần. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T rủ mọi người về nhà tại ấp D, xã T, Đ, Bình Phước để tiếp tục ăn uống và sử dụng ma túy thì được Nguyễn Thị Huyền T1 (N), Nguyễn Hoài T2, Bùi Văn Q, Phạm Tuấn H, Trịnh Đức A, Trần Việt L, Lê Thị Huyền T3 (L), Lê Thị Thanh H1 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe ô tô biển số 93A – 112.17 chở Nguyễn T1, H1, T2 về nhà T, còn những người khác tự đi đến. Trên xe ô tô, T đưa cho Nguyễn T1 gói nylon bên trong chứa ma túy và nói khi về đến nhà chia cho mọi người sử dụng, Nguyễn T1 đồng ý cầm gói nylon trên. Khi đến nhà, T mở cửa cho mọi người vào chơi, còn T, T2 đi ngủ. Lúc này, Nguyễn T1 lấy số ma túy T đưa trước đó ra để sử dụng, đồng thời đưa cho Q, H, A, L, Lê T3, H1 sử dụng, đến khoảng 00 giờ ngày 19/10/2022, có Phạm Văn H2, Đặng Hoàng V đến cùng sử dụng ma túy. Khoảng 05 giờ ngày 19/10/2022, T và T2 thức dậy sử dụng số ma túy còn lại; Đến khoảng 07 giờ 45 phút cùng ngày, do hết ma túy nên T, Nguyễn T1 cùng bàn bạc mua thêm ma túy về cho mọi người tiếp tục sử dụng, rồi T gọi M cho Tân V1 (không rõ nhân thân) để mua ma túy nhưng không được nên Nguyễn T1 gọi Messenger cho Cao Ngọc H3 (không rõ nhân thân) mua 2.500.000 đồng ma túy thì H3 đồng ý. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, H3 đi xe taxi (không rõ hãng) đến nhà T đưa cho Nguyễn T1 01 gói nylon bên trong chứa ma tuý, Nguyễn T1 cầm gói nylon trên đi vào nhà đưa cho T, rồi T đổ một ít ma túy vừa mua ra 02 đĩa sứ để những người trên cùng sử dụng, số ma túy còn lại T để dưới nền nhà, trong quá trình sử dụng có Đặng Hồng T4 đến cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Công an huyện Đ phối hợp Công an xã T tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện Nguyễn Minh T cùng Nguyễn Thị Huyền T1, Nguyễn Hoài T2, Bùi Văn Q, Phạm Tuấn H, Trịnh Đức A, Trần Việt L, Lê Thị Huyền T3, Lê Thị Thanh H1, Phạm Văn H2, Đặng Hoàng V, Đặng Hồng T4 đang sử dụng trái phép chất ma túy nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản quả tang, niêm phong tang vật, đồng thời đưa các đối tượng về trụ sở làm việc. Quá trình điều tra, Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Huyền T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Căn cứ kết luận giám định số 247/KL(MT) - KTHS ngày 25/10/2022 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2) được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Ketamine, có khối lượng lần lượt là: M1 = 0,1855 gam, M2 = 0,2302 gam; Tinh thể màu trắng (ký hiệu M3) được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Ketamine, có khối lượng là 1,2241 gam.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 55, 58 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải châp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2022.

Ngày 08/8/2023, bị cáo Nguyễn Minh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
  • - Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

  1. Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Minh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nhận định. Do đó, đủ căn cứ xác định: Từ khoảng 22 giờ ngày 18/10/2022 đến 10 giờ ngày 19/10/2022, Nguyễn Minh T đã sử dụng nhà do T quản lý cùng Nguyễn Thị Huyền T1 cung cấp ma túy cho Trần Việt L, Trịnh Đức A, Phạm Văn H2, Bùi Văn Q, Phạm Tuấn H, Đặng Hoàng V, Lê Thị Thanh H1, Lê Thị Huyền T3, Đặng Hồng T4, Nguyễn Hoài T2 sử dụng trái phép. Ngoài ra, các bị cáo Nguyễn Minh T, Nguyễn Thị Huyền T1 còn có hành vi tàng trữ trái phép 1,6398 gam ma túy loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang tại ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
  3. Xét kháng cáo yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Minh T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

    Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo Nguyễn Minh T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; bị cáo Nguyễn Minh T có thân nhân là người có có công với cách mạng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Minh T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

    Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Minh T đã cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như: Bị cáo là lao động chính của gia đình, có xác nhận của UBND xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; bố (ông Nguyên Xuân D) và mẹ (bà Nguyễn Thị D1) của bị cáo hiện nay tuổi cao và đang bị bệnh hiểm nghèo (căn cứ theo Biên bản giám định y khoa số 1094/2023/GĐYK-NKT ngày 12/10/2023 của Hội đồng Giám định y khoa tỉnh Bình Dương, Biên bản giám định y khoa số 742/2023/GĐYK-NKT ngày 20/7/2023 của Hội đồng Giám định y khoa tỉnh Bình Dương).

    Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xét thấy, bị cáo Nguyễn Minh T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo T sớm được trở về phụng dưỡng bố mẹ, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Minh T.

  4. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo Nguyễn Minh T không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Chấp nhận kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Minh T;

Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2023/HS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Minh T;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 54, 55, 58 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 06 năm 06 tháng (sáu năm sáu tháng) tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chấp hành hình phạt chung là 07 năm 06 tháng (bảy năm sáu tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2022;

Án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Minh T không phải chịu;

Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Bình Phước;
  • - Sở Tư pháp;
  • - TAND, VKS, CA huyện Đồng Phú;
  • - CQTHAHS CA huyện Đồng Phú;
  • - CQĐT CA huyện Đồng Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Đồng Phú;
  • - Bị cáo; Trại tạm giam;
  • - UBND xã An Bình, phú Giáo
  • - Lưu: HSVA, TỔ HCTP, Tòa HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Văn Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 27/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger