|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP TRÀ VINH TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2024/DS-ST Ngày: 24/5/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Dúng.
2. Ông Lê Hoàng Dũng.
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hồng Vân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QÐST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QÐST-DS ngày 16/4/2024, Thông báo về việc dời thời gian xét xử vụ án số 26/TB-TA ngày 26/4/2024 và Thông báo về việc dời thời gian xét xử vụ án số 27/TB-TA ngày 06/5/2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S(S1.
Địa chỉ trụ sở chính: Số B N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Hồ Bảo T, là Chuyên viên quản lý nợ Ngân hàng TMCP S nhánh T1(Theo văn bản ủy quyền số: 06/2024/GUQ-CNTV ngày 23 tháng 01 năm 2024), có đơn xin xét xử văng mặt.
Địa chỉ chi nhánh: Số E, N, khóm C, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh
-
Bị đơn: Bà Đoàn Thị Hồng C, sinh năm 1987, vắng mặt.
Địa chỉ: Số H B, khóm E, phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Hồ Bảo T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày như sau:
Ngày 24/01/2019, bà Đoàn Thị Hồng C có ký với Ngân hàng TMCP S(gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số: 126/2019- TTD ngày 01/02/2019 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Đoàn Thị Hồng C, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng là 10.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,15%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Đoàn Thị Hồng C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 17.565.201 đồng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Bà Đoàn Thị Hồng C phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Đoàn Thị Hồng C đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 22.142.000 đồng.
Do bà Đoàn Thị Hồng C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Đoàn Thị Hồng C vẫn không có thiện chí trả nợ, nên ngày 22/10/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 16/4/2024, bà Đoàn Thị Hồng C còn nợ số tiền vay gốc và lãi tổng cộng là: 16.474.014 đồng (Bằng chữ: Mười sáu triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn không trăm mười bốn đồng). Trong đó bao gồm: nợ gốc: 9.228.527 đồng; nợ Lãi quá hạn: 7.245.487 đồng. Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc 9.228.527 đồng với lãi suất quá hạn là 3,225%/tháng (2,15%* 150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà Đoàn Thị Hồng C, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên bà Đoàn Thị Hồng C vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng như đã thoả thuận, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đoàn Thị Hồng C có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ gốc và lãi còn nợ của hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số: 126/2019-TTD ngày 01/02/2019 tạm tính đến ngày 15/10/2023 là: 14.650.470 đồng (trong đó tiền vay gốc là 9.228.527 đồng, tiền lãi 5.421.943 đồng). Đồng thời yêu cầu bà C1 tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Tuy nhiên, đến ngày 06/5/2024 thì bà C2 trả cho Ngân hàng được số tiền vay gốc là 5.000.000 đồng, nhưng đến nay bà C3 chưa thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Tại phiên toà hôm nay, đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và có bản tự khai thay đổi yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bà C4 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 24/5/2024 là: 12.187.134 đồng (trong đó, tiền vay gốc là 4.228.527, tiền nợ lãi là 7.958.607 đồng). Đồng thời yêu cầu bà C1 tục trả lãi phát sinh tiếp theo đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
2
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đoàn Thị Hồng C đều vắng mặt các lần triệu tập của Tòa án. Theo bản tự khai đề ngày 16/4/2024 bà Đoàn Thị Hồng C5 bày và có yêu cầu như sau:
Bà Đoàn Thị Hồng C thừa nhận ngày 24/01/2019 thì bà có ký với Ngân hàng TMCS SHợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số: 126/2019- TTD ngày 01/02/2019 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Bà C6 định tính đến ngày 16/4/2024 thì bà C7 nợ Ngân hàng tổng số tiền vay gốc và lãi là 16.474.014 đồng (trong đó bao gồm nợ gốc là 9.228.527 đồng và nợ lãi là 7.245.487 đồng). Bà C8 Ngân hàng cho bà thêm thời gian để tự thoả thuận với Ngân hàng về việc trả nợ cho Ngân hàng và yêu cầu Ngân hàng rút lại đơn khởi kiện.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-
Tại phiên tòa hôm nay: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn bà Đoàn Thị Hồng C, sinh năm 1987, có nơi cư trú tại số H B, khóm E, phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt, nguyên đơn, bị đơn. Căn cứ Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
-
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy: Bà Đoàn Thị Hồng C có giao kết với Ngân hàng TMCS SHợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số: 126/2019- TTD ngày 01/02/2019 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Đoàn Thị Hồng C, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng là 10.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,15%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Đoàn Thị Hồng C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 17.565.201 đồng. Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Bà Đoàn Thị Hồng C phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Nhận thấy các thỏa thuận trong hợp đồng không trái với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng tín dụng các bên giao kết là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà C9 vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ lãi, nợ gốc đúng hạn như thỏa thuận trong hợp đồng. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở về việc yêu cầu bà C thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng đến
3
nay nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện xong. Bà C10 có lời khai thừa nhận và xác định còn nợ Ngân hàng những khoản nợ gốc và lãi như Ngân hàng đã yêu cầu và cũng có ý kiến thống nhất trả nợ cho Ngân hàng. Tính đến thời điểm tại phiên toà hôm nay, bà C10 không có cung cấp cho Toà án thêm tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh nhằm phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Đoàn Thị Hồng C có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 24/5/2024 là: 12.187.134 đồng (trong đó, tiền vay gốc là 4.228.527, tiền nợ lãi là 7.958.607 đồng). Đồng thời, yêu cầu bà Đoàn Thị Hồng C11 tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Xét các yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 292; 344; 345; 357; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
-
Bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, có lời khai ngày 16/4/2024 với nội dung thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng có yêu cầu nguyên đơn rút lại đơn khởi kiện để hai bên tự thương lượng, thoả thuận với nhau nhưng nguyên đơn không đồng ý rút đơn khởi kiện. Đồng thời bà C cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 177; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng các Điều 292; 344; 345; 357; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S(S1
Buộc bà Đoàn Thị Hồng C có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền vay gốc và lãi còn nợ của Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng số: 126/2019- TTD ngày 01/02/2019 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) tính đến ngày 24/5/2024 là: 12.187.134 đồng (bằng chữ: mười hai triệu, một trăm tám mươi bảy ngàn, một
4
trăm ba mươi bốn đồng). Trong đó: tiền nợ gốc là 4.228.527 đồng (bằng chữ: bốn triệu hai trăm hai mươi tám ngàn, năm trăm hai mươi bảy đồng), tiền nợ lãi là 7.958.607 đồng (bằng chữ: bảy triệu, chín trăm năm mươi tám ngàn, sáu trăm lẻ bảy đồng).
Kể từ ngày 25/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Đoàn Thị Hồng C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên. Trường Hợp trong hợp đồng tín dụng nêu trên các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà Đoàn Thị Hồng C phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Đoàn Thị Hồng C phải chịu số tiền án phí là 609.356 đồng (sáu trăm lẻ chín ngàn, ba trăm năm mươi sáu đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí nên hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP S nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 370.000 đồng (Ba trăm bảy mươi ngàn đồng) theo lai thu số 0000076 ngày 10/01/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, phải thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Trang |
5
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Trang |
6
Bản án số 27/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Số bản án: 27/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
