|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày 24-4-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để
Ông Ngô Văn Thum
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thị P, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1968 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp I, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nữ; Nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Phước L (đã chết) và bà Võ Thị C (đã chết); chồng Lương Văn N; có 02 người con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Thế H (Nguyễn Thái H1), sinh ngày 19 tháng 5 năm 1983 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Minh N1 và bà Nguyễn Xuân H2 (đã chết); vợ Phan Thị Thúy Đ; có 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án: Ngày 10/12/2004 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 24 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số: 28/HS-ST và ngày 19/01/2009 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số: 02/2009/HSST; Tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa. (Bản án số 28/HS-ST ngày 10/12/2004 của TAND huyện An Minh xác định bị cáo có lý lịch: Nguyễn Thái Hiền (Vọng Phu), sinh năm 1981 tại P, Hậu Giang; con ông Nguyễn Văn S và bà Châu Thị Thúy H3).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 15/5/2023, có đối tượng tên là Bùi Văn T (tên gọi khác là L1) chở theo một người phụ nữ tên là Ú đến nhà bị can Nguyễn Thị P ở ấp I X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang để mua số đề, bị can P đồng ý bán, bà Ú đưa cho P tờ giấy bạc ghi nhiều con số khác nhau (trong đó có ghi số đuôi 50 mua 800.000 đồng) và ghi đài Đồng Tháp, tổng số tiền mua số là 5.750.000 đồng. Đến 16 giờ 45 phút cùng ngày thì T và bà Ú đến nhà bị can P để đòi tiền trúng thưởng số đuôi 50 đài Đồng Tháp với tổng số tiền trúng là 64.000.000 đồng do không có đủ tiền trả nên bị can Nguyễn Thị P đã đến Công an xã Đ tự thú, tự nguyện giao nộp 01 tờ giấy bạc bên trong có ghi nhiều con số và số tiền mua, 01 quyển vở hiệu “T.T Book” bên trong có ghi các con số mà bị can Nguyễn Thị P đã bán ngày 15/5/2023.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Thị P khai nhận:
Vào ngày 15/5/2023, bị can P có bán số đề, đài xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Tháp, cho nhiều đối tượng không nhớ tên, trong đó có bán cho bà Ú, gồm các con số và số tiền cụ thể như sau:
Số đầu bán các con số gồm: Con 03 bán 55.000đ; con 07 bán 10.000đ; con 08 bán 20.000đ; con 10 bán 20.000đ; con 11 bán 650.000đ; con 16 bán 40.000 đ; con 18 bán 20.000đ; con 19 bán 30.000đ; con 20 bán 10.000đ; con 21 bán 160.000đ; con 22 bán 10.000đ; con 24 bán 70.000đ; con 25 bán 40.000đ; con 29 bán 20.000đ; con 30 bán 50.000đ; con 31 bán 20.000đ; con 32 bán 20.000đ; con 33 bán 30.000đ; con 36 bán 20.000đ; con 38 bán 25.000đ; con 39 bán 20.000đ; con 40 bán 50.000đ; con 41 bán 10.000đ; con 46 bán 50.000đ; con 51 bán 20.000đ; con 52 bán 60.000đ; con 53 bán 30.000đ; con 54 bán 10.000đ; con 55 bán 10.000đ; con 63 bán 870.000đ; con 66 bán 20.000đ; con 67 bán 20.000đ; con 68 bán 10.000đ; con 78 bán 10.000đ; con 80 bán 70.000đ; con 83 bán 25.000đ; con 87 bán 10.000đ; con 88 bán 200.000đ; con 89 bán 50.000đ; con 95 bán 50.000đ. Tổng cộng số đầu bán được số tiền 2.925.000đ.
Số đuôi bán các con số gồm: Con 09 bán 850.000đ; con 17 bán 850.000đ; con 43 bán 800.000đ; con 50 bán 800.000đ; con 76 bán 80.000đ. Tổng cộng số đuôi bán được số tiền 4.100.000đ.
Số lô 02 con, bán các con số gồm: Con 07 bán 10.000đ x 15 lô = 150.000đ; con 53 bán 5.000đ x 15 lô = 75.000đ; con 68 bán 5.000đ x 15 lô = 75.000đ; con 79 bán 10.000đ x 15 lô = 150.000đ; con 80 bán 5.000đ x 15 lô = 75.000đ; con 90 bán 5.000đ x 15 lô = 75.000đ. Tổng cộng số lô 02 con bán được số tiền 600.000đ.
Tổng số tiền bán số đề đài Đồng Tháp ngày 15/5/2023 là 7.625.000đ (Bảy triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Trong ngày này, đài Đ có các con số trúng thưởng gồm: Số đầu 33 trúng 30.000đ x 80 lần = 2.400.000đ; số đuôi 50 trúng 800.000đ x 80 lần = 64.000.000đ. Tổng số tiền trúng thưởng là 66.400.000đ (Sáu mươi sáu triệu sáu trăm nghìn đồng). Như vậy, tổng số tiền bán và trúng thưởng là 74.025.000đ.
Riêng đài Cà Mau cùng ngày bị can P bán được 01 con số 88 số tiền 100.000đ, nhưng kết quả không trúng thưởng.
Như vậy, trong ngày 15/5/2023, bị can Nguyễn Thị P đánh bạc với tổng số tiền là 74.125.000đ.
Bị can Nguyễn Thị P khai nhận chỉ mới tham gia bán số đề được 01 ngày, cụ thể là vào ngày 15/5/2023. Hình thức là dựa vào kết quả xổ số kiến thiết đài chính Miền Nam để bán số đầu, số đuôi, số lô 02 con. Mức độ mua đối với số đầu, số đuôi là 01 trả 01, tức mua 1.000đ, trả 1.000đ; mức độ mua đối với số lô 02 con là mua 01 trả 15 lô, tức mua 1.000đ trả 15.000đ. Mức độ trúng thưởng đối với số đầu, số đuôi và số lô 02 con là 01 trúng 80 lần, tức 1.000đ trúng 80.000đ. Trong ngày 15/5/2023, bị can Nguyễn Thị P thu lợi bất chính 7.725.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thế H khai nhận:
Khoảng 12 giờ ngày 15/5/2023 bị can H và Bùi Văn T đang uống cà phê thì gặp bà Ú (không rõ nhân thân, địa chỉ) nói có số 50 mua nhiều ngày nhưng chưa xổ, thấy vậy bị can H gửi bà Ú mua dùm H 400.000 đồng (số đầu 50 số tiền 200.000 đồng, số đuôi 50 số tiền 200.000 đồng), đài xổ số tỉnh Đồng Tháp, đến chiều khoảng 17 giờ thì kết quả trúng thưởng H trúng được số đuôi 50 với số tiền 200.000 đồng x 80 lần = 16.000.000 đồng, T gọi cho H nói người bán là bà P không trả tiền trúng thưởng, nên bị can H chạy đến nhà bị can P và gặp T cùng bà Ú đang ở đó, hỏi P “Sao trúng mà không chung tiền?” bà P đáp là không có tiền chung, tôi báo công an rồi, lúc này có lực lượng Công an đến mời tất cả về trụ sở Công an để làm việc.
Như vậy, ngày 15/5/2023 bị can Nguyễn Thế H dùng 400.000 đồng để tham gia mua số đề và tiền trúng thưởng là 16.000.000 đồng, tổng cộng bị can H tham gia đánh bạc là 16.400.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A không thu giữ vật chứng. Xử lý tiền thu lợi bất chính: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 7.725.000 đồng của bị can Nguyễn Thị P bán số đề; Số tiền 400.000 đồng của bị can Nguyễn Thế H dùng đánh bạc. Hiện tại các bị can đã nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh xong.
Tại Cáo trạng số 26/CT-VKS-AM ngày 18-3-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Thị Phương về tội Đánh bạc quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự và Nguyễn Thế H về tội Đánh bạc quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Thị P và Nguyễn Thế H phạm tội đánh bạc và đề nghị:
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321, điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 06 đến 09 tháng tù; phạt bổ sung: không.
- + (Rút một phần quyết định truy tố: từ khoản 2 sang khoản 1), Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thế Hiền t 06 đến 09 tháng tù; phạt bổ sung: không.
- + Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền bán số đề của Nguyễn Thị P là 7.725.000 đồng, số tiền mua số đề của Nguyễn Thế H là 400.000 đồng.
- - Bị cáo trình bày: Bị cáo Nguyễn Thị P và Nguyễn Thế H thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng các bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 15/5/2023 Nguyễn Thị P có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề (số đầu, số đuôi, số lô) các đài Miền Nam được tổng số tiền 7.725.000 đồng trong đó: Đài Đ bán được số tiền 7.625.000 đồng, tổng số tiền trúng thưởng là 66.400.000 đồng, tổng cộng 74.025.000 đồng; đài Cà Mau bán được 100.000 đồng, không trúng thưởng. Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị P đánh bạc ngày 15/5/2023 là 74.125.000 đồng. Bị cáo tự bán số đề, tự trả thưởng, không nộp phơi cho ai, bị cáo mới bán số đề vào ngày 15/5/2023, do có người trúng thưởng nhưng không có tiền trả nên đến Công an xã Đ, huyện A để tự thú.
Trong đó: Ngày 15/5/2023, Nguyễn Thế H đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua số đề của bị cáo P bán đài Đ với số tiền 400.000 đồng, trúng thưởng được số tiền 16.000.000 đồng, như vậy tổng số tiền bị cáo H đánh bạc ngày 15/5/2023 là 16.400.000 đồng.
[2.2] Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức được việc bán và mua số đề được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện; bị cáo P đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức bán số đề được thua bằng tiền và bị cáo H là người mua số đề do bị cáo P bán; các bị cáo cùng thực hiện tội phạm nên là đồng phạm nhưng chỉ ở mức độ giản đơn, trong đó bị cáo P là người bán, bị cáo H là người mua; số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội Đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự.
[2.3] Về định khung hình phạt:
Đối với bị cáo P tổng số tiền đánh bạc vào ngày 15/5/2023 trên 50.000.000 đồng, cụ thể là 74.125.000 đồng nên Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo P phạm tội Đánh bạc được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đối với bị cáo H, tại cáo trạng Viện kiểm sát xác định số tiền đánh bạc vào ngày 15/5/2023 chỉ là 16.400.000 đồng nhưng vào ngày 10/12/2004 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 24 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số: 28/HS-ST và ngày 19/01/2009 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số: 02/2009/HSST, bị cáo H chưa chấp hành xong bản án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên được xác định là tái phạm nguy hiểm và đã truy tố bị cáo H theo điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa đã làm rõ được bị cáo H đã chấp hành xong tất cả các bản án (kể cả về hình phạt tù và các quyết định về dân sự, án phí) trước khi phạm tội lần này nên đã được xóa án tích. Do đó, Viện kiểm sát đã rút một phần truy tố và kết luận bị cáo H phạm tội theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Các bị cáo P và H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và sự bất bình trong nhân dân, các bị cáo chưa chấp hành tốt pháp luật nên cần có hình thức xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; đã nộp lại toàn bộ số tiền mua và bán số đề; bị cáo P có thân nhân là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo P đã đến Công an xã Đ, huyện A để tự thú hành vi phạm tội nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r khoản 1 Điều Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo P phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, có khung hình phạt từ 03 đến 07 năm tù, số tiền đánh bạc tương đối lớn; bị cáo H tuy phạm tội ít nghiêm trọng nhưng có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án nhưng không sửa chữa mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt các bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra. Do đó, áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật.
Tuy nhiên, thấy bị cáo P có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bản thân đang mang nhiều bệnh cần phải điều trị nên HĐXX thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố, xét xử nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo H chỉ cần xử phạt ở mức đầu khung hình phạt là cũng đủ răn đe.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. HĐXX nhận thấy lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, thấy các bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định và phải chấp hành hình phạt tù khó đảm bảo việc thi hành án nên miễn áp dụng đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng, phơi số đề đã được đưa vào hồ sơ vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A không thu giữ gì thêm nên không xem xét.
Đối với số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc được tịch thu sung ngân sách.
[6] Về án phí, các bị cáo P và H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Đối với Bùi Văn T có liên quan đến vụ án, hiện tại vắng mặt tại địa phương nên chưa mời làm việc được. Đối tượng tên Ú là người trực tiếp đánh bạc với bị can P, nhưng hiện tại chưa xác định được lai lịch nhân thân nên chưa xem xét, xử lý trong vụ án này là phù hợp. Đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị P và Nguyễn Thế H (Nguyễn Thái H1) phạm tội Đánh bạc.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 07 (bảy) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H (Nguyễn Thái H1) 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- - Số tiền đánh bạc của bị cáo Nguyễn Thị P là 7.725.000 đồng (bị cáo đã nộp 7.725.000 đồng tại biên lai thu số 0004104 ngày 28-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh).
- - Số tiền đánh bạc của bị cáo Nguyễn Thế H là 400.000 đồng (bị cáo đã nộp 400.000 đồng tại biên lai thu số 0004106 ngày 28-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh).
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo P và H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 24-4-2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về đánh bạc
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị P và Nguyễn Thế H phạm tội Đánh bạc
