|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày: 23/5/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Thơm và ông Nguyễn Văn Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hiệp, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024, đối với:
Bị cáo Nguyễn Đình P; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 22/7/1998 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...], cấp ngày 15/5/2022 do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH- bộ C3 cấp; Nơi cư trú: 2 P, tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình C (Sinh năm 1964) và bà Phạm Thị V (Chết); Vợ: Lê Thị Ngọc B; sinh năm 2001; Con: Có 01 con, sinh năm 2021;
Quá trình nhân thân: Còn nhỏ sống với gia đình tại phường T, thị xã H, tỉnh TT - Huế học hết lớp 7/12 thì nghỉ học.
Ngày 07/11/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 87/2023/HSST)
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
- Bị hại:
+ Ông Nguyễn C1, sinh năm: 1974; Địa chỉ: Tổ G, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
+ Bà Trần Thị M, sinh năm: 1975; Địa chỉ: Tổ G, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Duy P1, sinh năm: 1997; Địa chỉ: Tổ G, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
+ Chị Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1992; địa chỉ: tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ G, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ ngày 24/11/2023 đến ngày 01/12/2023, Nguyễn Đình P đã nhiều lần một mình lén lút đột nhập vào nhà của ông Nguyễn C1 và bà Châu Thị M1, ở tổ G, phường T, thị xã H trộm cắp tài sản. Cụ thể:
Lần 1: khoảng 14 giờ ngày 24/11/2023, P đi bộ qua nhà của ông C1, phát hiện nhà không có người, cửa phía sau không khóa nên đã mở cửa đột nhập vào bên trong chiếm đoạt số tiền 12.000.000 đồng để ở hộc tủ nhựa (gồm 2.000.000 đồng phía trên ví da, 10.000.000 đồng trong ví da), ở tầng hai; 01 máy tính xách tay hiệu ASUS, loại 553S ở phòng khách của anh Nguyễn Duy P1 (sinh năm 1997, con trai của ông C1, bà M1). Sau đó, vào phòng ngủ tầng một lục tìm tài sản nhưng không có nên tẩu thoát. Số tiền trộm cắp được Phanh tiêu xài cá nhân hết, còn máy tính xách tay ngày 25/11/2023, P đem bán cho anh Nguyễn Quang H (sinh năm 1990, trú tại T, xã T, thị xã H) với giá 500.000 đồng.
Lần 2: khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01/12/2023, do biết được trong phòng ngủ tầng 1 của gia đình ông C1 có két sắt, nghĩ có nhiều tài sản nên Nguyễn Đình P chuẩn bị 01 cái rựa rồi một mình đến nhà ông C1. Khi đến nơi, nhà khóa cửa, không có người, P đi đến phía sau cửa sổ phòng ngủ, dùng rựa cạy cửa sổ ra, dùng tay giật song sắt cửa sổ rồi leo qua cửa sổ đột nhập vào trong phòng. Phát hiện 01 két sắt để ở dưới đất, P lấy trộm 01 két sắt màu xanh bên trong có số tiền 110.000.000 đồng loại tiền ngân hàng N; 02 chiếc nhẫn kim loại màu vàng, bên trong mỗi chiếc nhẫn ghi chữ “Kim Chau Lam 1c”; 06 vòng kim loại màu vàng ở khuy khóa mỗi chiếc vòng có chữ “KH”, mỗi vòng có đường kính 5,5cm; 02 chiếc vòng (khuyên tai) bằng kim loại màu vàng, mỗi vàng có đường kính 4,6cm; 01 sợi dây bằng kim loại màu vàng dài 20cm, trên móc khóa có chữ “T.DANH610”; 01 mặt dây chuyền hình thoi có đính hạt chất màu trắng và đỏ có gắn kim loại màu vàng, trên móc khóa có chữ, số “NF4.58”; 01 mặt dây chuyền hình chiếc răng nanh có gắn kim loại màu vàng dài 5cm; 01 mặt dây chuyền hình tượng phật màu xanh có gắn kim loại màu vàng kích thước bề ngang 2,8cm; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng dài 57cm mang ra ngoài cách nhà này khoảng 50m rồi dùng cây rựa cạy két sắt ra để lấy tài sản bên trong nhưng không cạy ra được. Do sợ bị phát hiện và két sắt nặng nên P để lại hiện trường, lấy áo mưa mang trên người đậy két sắt lại rồi bỏ đi.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, bị cáo P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 cây rựa dài 62,5cm, có cán bằng gỗ dài 25cm, lưỡi bằng sắt dài 37,5cm, bản rộng nhất dài 5cm; 01 đôi dép xốp màu đen; 01 máy tính xách tay (laptop) hiệu ASUS màu đen, loại X553S, đã qua sử dụng; 01 áo mưa màu xanh; 01 két sắt màu xanh, có kích thước (35x27x49) cm bị hư hỏng ở phần cửa; 02 chiếc nhẫn kim loại màu vàng, bên trong mỗi chiếc nhẫn ghi chữ “Kim Chau Lam 1c”; 06 vòng kim loại màu vàng ở khuy khóa mỗi chiếc vòng có chữ “KH”, mỗi vòng có đường kính 5,5cm; 02 chiếc vòng (khuyên tai) bằng kim loại màu vàng, mỗi vàng có đường kính 4,6cm; 01 sợi dây bằng kim loại màu vàng dài 20cm, trên móc khóa có chữ “T.DANH610”; 01 mặt dây chuyền hình thoi có đính hạt chất màu trắng và đỏ có gắn kim loại màu vàng, trên móc khóa có chữ, số “NF4.58”; 01 mặt dây chuyền hình chiếc răng nanh có gắn kim loại màu vàng dài 5cm; 01 mặt dây chuyền hình tượng phật màu xanh có gắn kim loại màu vàng kích thước bề ngang 2,8cm; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng dài 57cm; số tiền 110.000.000 đồng loại tiền ngân hàng N.
Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã trả lại tiền và tài sản cho các chủ sở hữu.
Tại bản kết luận giám định số 2561/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phân Viện khoa hoạc hình sự tại TP Đà Nẵng kêt luận:
- 02 (hai) chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng, mặt trong mỗi chiếc nhẫn ghi chữ “Kim Chau C2 1c”, đều có kim loại vàng (A) và đồng (Cu); hàm lượng trung bình từng kim loại như sau: vàng là 99,8%; đồng là 2,2%; tổng khối lượng là 7,50 gam.
- 06 (sáu) chiếc vòng bằng kim loại màu vàng, ở khuy khóa mỗi chiếc vòng đều có chữ “KH”, mỗi vòng có đường kính 5,5cm, đều có kim loại vàng (A), đồng (Cu) và bạc (Ag); hàm lượng trung bình từng kim loại như sau: vàng là 61,0%; đồng là 25,2%; bạc là 13,8%; tổng khối lượng mẫu là 19,62 gam.
- 02 (hai) chiếc vòng (khuyên tai) bằng kim loại màu vàng, mỗi vòng đều có đường kính 4,6cm, đều có kim loại vàng (A), đồng (Cu) và bạc (Ag); hàm lượng trung bình từng kim loại như sau: vàng là 61,0%; đồng là 25,0%; bạc là 14,0%; tổng khối lượng mẫu là 4,41 gam.
- 01 (một) sợi dây bằng kim loại màu vàng, có chiều dài 20cm, gồm nhiều mắt xích nối lại với nhau, tại móc khóa có chữ và số “T.DANH610”, có đường kính 4,6cm, có kim loại vàng (Au), đồng (Cu), bạc (A1) và kẽm (Zn); hàm lượng trung bình từng kim loại như sau: vàng là 61,0%; đồng là 20,4%; bạc là 14,7%; kẽm 3,9%; khối lượng mẫu là 32,98 gam.
- Phần kim loại màu vàng của mặt dây chuyền hình thoi, trên đính hạt chất màu đỏ và các hạt chất màu trắng, trên móc khóa có chữ và số “NF4.58” có kim loại vàng (Au), đồng (Cu), bạc (A1) và kẽm (Zn); hàm lượng từng kim loại như sau: vàng là 50,5%; đồng là 33,9%; bạc là 11,7%; kẽm 3,9%; tổng khối lượng mẫu là 6,36 gam (tính cả khối lượng hạt chất màu đỏ và các hạt chất màu trắng).
- Phần kim loại màu vàng của mặt dây chuyền hình chiếc răng nanh dài 5cm, có kim loại vàng (Au), đồng (Cu) và bạc (Ag); hàm lượng từng kim loại như sau: vàng là 46,1%; đồng là 38,9%; bạc là 15,0%; tổng khối lượng mẫu là 4,84 gam (tính cả khối lượng chất màu trắng hình chiếc răng nanh).
- Phần kim loại màu vàng của mặt dây chuyền hình tượng phật màu xanh có kích thước bề ngang 2,8cm có kim loại vàng (A), đồng (Cu) và kẽm (Zn); hàm lượng từng kim loại như sau: vàng là 54,1%; đồng là 41,2%; kẽm là 4,7%; tổng khối lượng mẫu là 4,73 gam (tính cả khối lượng chất mảnh chất màu xanh hình tượng phật).
- 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, gồm các mắt xích nối lại với nhau, có chiều dài 57cm, có kim loại vàng (Au), đồng (Cu), kẽm (Z) và niken (Ni); hàm lượng trung bình từng kim loại như sau: vàng là 47,0%; đồng là 45,5%; kẽm là 7,0%; Niken là 0,5%; khối lượng mẫu là 15,06 gam.
Tại bản kết luận giám định số 782/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Dấu vết giày, dép gửi giám định là do chiếc dép phải của đôi dép thu của đối tượng Nguyễn Đình P (BL: 70).
Tại bản kết luận định giá số: 03/KL-HĐĐGTS ngày 04/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã H, kết luận: máy tính xách tay hiệu ASUS màu đen, loại X553S, đã qua sử dụng có giá trị: 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn động).
Tại bản kết luận định giá số: 14/KL-HĐĐGTS ngày 15/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã H, kết luận: 02 (hai) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, mặt trong mỗi chiếc nhẫn ghi chữ “Kim Chau Cam 1c”, có khối lượng 7,5 gam (hàm lượng vàng 99,8%), giá trị: 12.297.000 đồng.
- 06 (sáu) chiếc vòng kim loại màu vàng, ở khuy khóa mỗi chiếc vòng đều có chữ “KH”, mỗi chiếc vòng có đường kính 5,5cm có tổng khối lượng 19,62 gam (hàm lượng vàng 61%), giá trị: 19.022.506 đồng.
- 02 (hai) chiếc vòng (khuyên tai) bằng kim loại màu vàng, mỗi vòng đều có đường kính 4,6cm, có tổng khối lượng 4,41 gam (hàm lượng vàng 61%), giá trị: 4.275.701 đồng.
- 01 (một) sợi dây kim loại màu vàng, có chiều dài 20cm, gồm nhiều mắt xích nối lại với nhau, tại móc khóa có chữ và số “T.DANH610”, có khối lượng 32,98 gam (chất lượng vàng 61%), giá trị: 31.975.649 đồng .
- 01 mặt dây chuyền hình thoi bằng kim loại màu vàng, trên đính hạt chất màu đỏ và hạt chất màu trắng, trên móc khóa có chữ và số “NF4.58” có tổng khối lượng mẫu là 6,36 gam (hàm lượng 50,5%), giá trị: 2.514.500 đồng.
- 01 mặt dây chuyền kim loại màu vàng có găn chất màu trắng hình chiếc răng nanh dài 5cm, có tổng khối lượng 4,84 gam (hàm lượng vàng 46,1%), giá trị 972.459 đồng.
- 01 mặt dây chuyền, viền ngoài bằng kim loại màu vàng, trên có gắn mảnh chất màu xanh hình tượng phật kích thước bề ngang 2,8cm có tổng khối lượng 4,73 gam (hàm lượng vàng 54,1%), giá trị: 902.997 đồng.
- 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, gồm các mắt xích nối lại với nhau, có chiều dài 57cm, có tổng khối lượng mẫu là 15,06 gam (hàm lượng vàng 47%), giá trị: 10.460.887 đồng.
- 01 két sắt màu xanh có kích thước (35x27x49) cm, hiệu COMECO đã bị hư hỏng hoàn toàn không sửa được, giá trị: 1.500.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: chị Nguyễn Thị Kim H1 (chị ruột của P) đã bồi thường cho anh P1 số tiền 12.000.000 đồng; ông C1, bà M1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS-HTh ngày 26/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình P, về tội : “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình P phạm tội : “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Đình P từ 05 (năm) năm đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Áp dụng Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này và hình phạt 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo của bản án hình sơ thẩm số 87/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên Huế. Hình phạt chung bị cáo Nguyễn Đình P phải chịu là: 05 (năm) năm 07 (bảy) tháng đến 06 (sáu) năm 01 (một) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 cây rựa dài 62,5cm, có cán bằng gỗ dài 25cm, lưỡi bằng sắt dài 37,5cm, bản rộng nhất dài 5cm; 01 đôi dép xốp màu đen; 01 áo mưa màu xanh đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến và lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 24/11/2023 đến ngày 01/12/2023, tại tổ G, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nguyễn Đình P đã có hành vi nhiều lần (02 lần), trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Duy P1, ông Nguyễn C1 và bà Châu Thị M1, cụ thể:
- Lần 1: Khoảng 14 giờ ngày 24/11/2023, P lấy trộm của anh Nguyễn Duy P1 số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) và 01 máy tích xách tay hiệu ASUS, loại X553S trị giá: 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng); có tổng trị giá là 14.500.000 đồng.
- Lần 2: Khoảng 13 giờ 30 ngày 01/12/2023, P lấy trộm của vợ chồng ông Nguyễn C1 và bà Châu Thị M1 01 két sắt trị giá 1.500.000 đồng, tiền mặt 110.000.000 đồng và vàng trị giá 82.421.689 đồng; có tổng trị giá là 193.821.689.600 đồng (Một trăm chín mươi ba triệu tám trăm hai mươi mốt ngàn sáu trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm đồng).
Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 208.421.689 đồng (hai trăm lẽ tám triệu bốn trăm hai mươi mốt nghìn sáu trăm tám mươi chín đồng). Thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Như vậy, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của tội phạm và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo P là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính lười lao động, muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác nên bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác được Nhà nước bảo hộ, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đình P phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.
[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo; bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; Tại phiên tòa, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
[6] Về hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt:
Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Đình P xâm phạm tài sản có giá trị rất lớn nên cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung, bảo vệ trật tự an toàn cho xã hội. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự; Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
Xử phạt bị cáo mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 Bộ luật hình sự còn quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nhưng xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có việc làm và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Do bị cáo Nguyễn Đình P phạm tội mới trong thời gian thi hành Bản án số: 87/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, xử phạt bị cáo phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 15/3/2023 về tội “Trộm cắp tài sản” nên buộc bị cáo Nguyễn Đình P chấp hành hình phạt tù giam của Bản án trên và tổng hợp hình phạt tù của Bản án này.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại. Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an thị xã H đã trả lại tiền và tài sản cho các chủ sở hữu. Tại phiên tòa không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với: 01 cây rựa dài 62,5cm, có cán bằng gỗ dài 25cm, lưỡi bằng sắt dài 37,5cm, bản rộng nhất dài 5cm; 01 đôi dép xốp màu đen; 01 máy tính xách tay (laptop) hiệu ASUS màu đen, loại X553S, đã qua sử dụng; 01 áo mưa màu xanh. Xét thấy không có giá trị sử dụng nên căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình P 05 (năm) năm tù.
Áp dụng Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này và hình phạt 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 15/3/2023 về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án hình sơ thẩm số 87/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy tỉnh Thừa Thiên Huế. Hình phạt chung bị cáo Nguyễn Đình P phải chịu là : 05 (năm) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 05/12/2023.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
Tịch thu tiêu hủy đối với 01 cây rựa dài 62,5cm, có cán bằng gỗ dài 25cm, lưỡi bằng sắt dài 37,5cm, bản rộng nhất dài 5cm; 01 áo mưa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 đôi dép xốp màu đen.
(Vật chứng trên hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11 tháng 4 năm 2023).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Đình P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hằng |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình P; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 22/7/1998 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: 2 P, tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế
