Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày 21 - 6 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ngô Quang Vinh
  2. Ông Nguyễn Anh Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phùng Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 20 24 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trung H, sinh ngày 04/11/1997, tại: thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu B, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965; Con bà Mai Thị Thanh H1, sinh năm 1965; Vợ: Lỗ Thị H2, sinh năm 1998; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ, sinh năm 2023; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân:

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 169/QĐ-XPHC ngày 21/9/2017 của Công an thị xã P xử phạt H về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”. Mức phạt: 2.500.000 đồng. Đã thi hành xong ngày 03/10/2017.

Tại Bản án số 09/2019/HS-ST ngày 25/02/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt H 30 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích”, án phí 200.000 đồng. Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 07/3/2021.

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 134/QĐ-XPVPHC ngày 21/5/2018 của Công an thị xã P xử phạt H về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong người đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác”. Mức phạt: 2.500.000 đồng. Đã thi hành xong ngày 26/6/2018.

Bị cáo không bị tạm giữ, không bị tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Ngô Thành L, sinh năm 1992, trú tại khu C, xã H, thị xã P; Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Đức H3, sinh năm 1992, trú tại khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.
  3. Anh Trần Xuân Đ, sinh năm 1999, trú tại khu B, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.
  4. Anh Trần Vũ D, sinh năm 1993, trú tại khu B, xã H, thị xã P; Vắng mặt.
  5. Anh Lê Văn H4, sinh năm 1996, trú tại khu 3 xã H, thị xã P; Vắng mặt.
  6. Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1993, trú tại khu I, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã P tiếp nhận tố giác của anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1993, trú tại khu I xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ về việc Nguyễn Trung H, sinh năm 1997, trú tại khu B, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Cụ thể, H cho anh Nguyễn Tuấn A vay tiền với lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày. Cơ quan điều tra đã triệu tập H đến làm việc đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Trung H. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã P, Nguyễn Trung H khai nhận: bản thân H là lao động tự do, không đăng ký kinh doanh ngành nghề gì. Từ khoảng tháng 3/2023, H bắt đầu hoạt động cho một số người trong và ngoài thị xã P vay tiền với hình thức “tín chấp”, mức lãi suất từ 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương lãi suất 108%/năm) đến 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương lãi suất 180%/năm). Giữa H và người vay tiền không viết giấy tờ gì mà chỉ thỏa thuận mỗi tháng trả tiền lãi một lần bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng của H là 0969390555 hoặc 3520190976666 mở tại ngân hàng Q (M). Số ngày tính lãi một tháng là 30 ngày không phân biệt tháng có số ngày khác nhau và khoản vay chỉ được

2

coi là kết thúc khi người vay thanh toán đủ tiền gốc. Quá trình điều tra xác định H đã cho 06 người vay tiền lãi suất cao cụ thể như sau:

1. Anh Ngô Thành L, sinh năm 1992, trú tại khu C, xã H, thị xã P.

Do có mối quan hệ hàng xóm, anh L biết Nguyễn Trung H cho vay tiền nên ngày 16/3/2023, anh L đến nhà gặp H hỏi vay số tiền 15.000.000 đồng. H đồng ý và thống nhất lãi suất là 3.000 đồng /1 triệu/1 ngày (tức lãi suất là 0,3%/ngày = 9%/tháng = 108%/năm). Cùng ngày, H sử dụng tài khoản ngân hàng số 3520190976666 chuyển khoản số tiền 15.000.000 đồng đến số tài khoản 0975447088 của anh L mở tại ngân hàng M. Ngày 27/3/2023, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên anh L tiếp tục vay của H số tiền 10.000.000 đồng và thống nhất mức lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày như trên. Đến ngày 16/12/2023 anh L đã trả cho H toàn bộ tiền gốc khoản vay lần 1 là 15.000.000 đồng. Theo thỏa thuận, tiền lãi của khoản vay này từ ngày 16/3/2023 đến ngày 16/12/2023 là 270 ngày = 12.150.000 đồng H đã nhận đủ. Đối với khoản vay 10.000.000 đồng, theo thỏa thuận tiền lãi của khoản vay này từ ngày 27/3/2023 đến ngày 19/02/2024 là 322 ngày = 9.660.000 đồng. Anh L đã trả tiền lãi cho H đến ngày 27/01/2024 là 9.000.000 đồng, còn 660.000 đồng là tiền lãi từ ngày 28/01/2024 đến ngày 19/02/2024 anh L chưa thanh toán do bị cơ quan Công an phát hiện.

Như vậy, tổng số tiền lãi theo thỏa thuận mà anh L phải trả cho H đối với cả hai khoản vay nêu trên là 21.810.000 đồng, trong đó tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm pháp luật dân sự cho phép là 4.042.120 đồng, còn 17.767.880 đồng là khoản tiền lãi vượt mức 20%/năm.

2. Anh Nguyễn Đức H3, sinh năm 1992, trú tại khu A, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ:

Do có mối quan hệ quen biết cùng xã và cần tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 10/4/2023, anh H3 đến gặp H hỏi vay số tiền 5.000.000 đồng. H đồng ý và bảo lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tức lãi suất là 0,5%/ngày =15%/tháng= 180%/năm). Anh H3 đồng ý. Cùng ngày, H sử dụng tài khoản ngân hàng số 3520190976666 chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng đến số tài khoản 990001060001581 mở tại ngân hàng B của anh H3. Theo thỏa thuận, tiền lãi của khoản vay này từ ngày 10/5/2023 đến ngày 19/02/2024 là 309 ngày = 7.725.000 đồng, anh H3 đã trả tiền lãi cho H đến ngày 10/01/2024 là 6.750.000 đồng, còn 975.000 đồng là tiền lãi từ ngày 11/01/2024 đến ngày 19/02/2024 anh H3 chưa trả cho H.

Như vậy, số tiền lãi theo thỏa thuận mà anh H3 phải trả cho H đối với khoản vay nêu trên là 7.725.000 đồng, trong đó tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm pháp luật dân sự cho phép là 859.020 đồng, còn 6.865.980 đồng là khoản tiền lãi vượt mức 20%/năm.

3. Anh Trần Xuân Đ, sinh năm 1999, trú tại khu B, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ:

3

Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 19/8/2023, anh Đ đến nhà gặp H và hỏi vay số tiền là 10.000.000 đồng. H đồng ý và nói tiền lãi 01 tháng là 1.000.000 đồng (tức lãi suất là 0,333%/ngày = 10%/tháng = 120%/năm). Anh Đ đồng ý. Cùng ngày, H sử dụng tài khoản ngân hàng số 0969390555 chuyển khoản số tiền 10.000.000 đồng đến số tài khoản 0831000041969 mở tại ngân hàng V của anh Đ. Đến ngày 31/8/2023, anh Đ tiếp tục vay thêm H số tiền là 5.000.000 đồng, tiền lãi 01 tháng là 500.000 đồng, tức lãi suất 120%/năm như khoản vay thứ nhất. Đến ngày 20/9/2023, anh Đ vay tiếp của H số tiền là 5.000.000 đồng, lãi suất vẫn tính như hai khoản vay trước là 120%/năm. Việc giao nhận tiền đều chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng nêu trên. Theo thỏa thuận, anh Đ phải trả tiền lãi cho H của 03 khoản vay cụ thể như sau:

Khoản vay 10.000.000 đồng từ ngày 19/8/2023 đến ngày 19/02/2024 là 180 ngày (03 tháng) = 6.000.000 đồng. anh Đ đã trả tiền lãi cho H đến ngày 19/01/2024 là 5.000.000 đồng, còn 1.000.000 đồng là tiền lãi từ ngày 20/01/2024 đến ngày 19/02/2024 anh Đ chưa trả cho H.

Khoản vay 5.000.000 đồng từ ngày 31/8/2023 đến ngày 19/02/2024 là 169 ngày = 2.816.385 đồng, anh Đ đã trả tiền lãi cho H đến ngày 31/01/2024 là 2.500.000 đồng, còn 316.635 đồng là tiền lãi từ ngày 01/02/2024 đến ngày 19/02/2024 anh Đ chưa trả cho H.

Khoản vay 5.000.000 đồng từ ngày 20/9/2023 đến ngày 19/02/2024 là 149 ngày = 2.483.085 đồng. anh Đ đã trả tiền lãi cho H đến ngày 20/01/2024 là 2.000.000 đồng, còn 483.085 đồng là tiền lãi từ ngày 21/01/2024 đến ngày 19/02/2024 anh Đ chưa trả cho H.

Như vậy, tổng số tiền lãi theo thỏa thuận mà anh Đ phải trả cho H đối với cả 03 khoản vay nêu trên là 11.299.470 đồng, trong đó tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm pháp luật dân sự cho phép là 1.884.840 đồng, còn 9.414.630 đồng là khoản tiền lãi vượt mức 20%/năm.

4. Anh Trần Vũ D, sinh năm 1993, trú tại khu B, xã H, thị xã P.

Do có mối quan hệ xã hội và biết H cho vay tiền nên từ ngày 25/8/2023 đến ngày 12/9/2023 anh D vay của H 02 khoản tiền để chi tiêu cá nhân. Cụ thể:

Khoản thứ nhất: ngày 25/8/2023, anh D hỏi vay H số tiền 5.000.000 đồng. H đồng ý và thống nhất tính tiền lãi là 700.000 đồng/tháng (tức là lãi suất 14%/tháng = 168%/năm). Cùng ngày, H sử dụng tài khoản ngân hàng số 0969390555 chuyển khoản số tiền là 5.000.000 đồng đến số tài khoản 0528215088888 mở tại ngân hàng M của anh D. Từ ngày 25/8/2023 đến ngày 27/11/2023, anh D đã trả tiền lãi cho H 03 tháng là 2.100.000 đồng. Cùng tháng 11/2023 (không xác định ngày cụ thể) anh D đã trả cho H số tiền gốc là 5.000.000 đồng. Như vậy, khoản vay này đã kết thúc, anh D đã thanh toán cho H đủ cả gốc và lãi là 7.100.000 đồng.

4

Khoản thứ hai: ngày 12/9/2023, anh D tiếp tục vay H số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tức là lãi suất 0,3%/ngày = 9%/tháng = 108%/năm). Cùng ngày, H sử dụng tài khoản ngân hàng số 0969390555 chuyển khoản số tiền là 5.000.000 đồng đến số tài khoản 0528215088888 mở tại ngân hàng M của anh D. Theo thỏa thuận, tiền lãi của khoản vay này từ ngày 12/9/2023 đến ngày 19/02/2024 là 157 ngày = 2.355.000 đồng, anh D đã trả cho H 1.800.000 đồng tính đến ngày 12/01/2024, còn 555.000 đồng là tiền lãi từ ngày 13/01/2024 đến ngày 19/02/2024 anh D chưa thanh toán.

Như vậy, tổng số tiền lãi theo thỏa thuận mà anh D phải trả cho H đối với cả 02 khoản vay nêu trên là 4.455.000 đồng, trong đó tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm pháp luật dân sự cho phép là 686.660 đồng, còn 3.768.340 đồng là khoản tiền lãi vượt mức 20%/năm.

5. Anh Lê Văn H4, sinh năm 1996, trú tại khu 3 xã H, thị xã P.

Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 16/10/2023, anh H4 đến nhà gặp H hỏi vay số tiền 7.000.000 đồng. H đồng ý và thống nhất tính lãi suất là 5.000 đồng/triệu/ngày (tức lãi suất là 0,5%/ngày = 15%/tháng = 180%/năm). Cùng ngày, H sử dụng tài khoản ngân hàng số 0969390555 chuyển khoản số tiền 7.000.000 đồng đến số tài khoản 2701205158836 của anh H4 mở tại ngân hàng A1. Hàng tháng anh H4 phải trả cho H số tiền lãi là 1.050.000 đồng/tháng. Theo thỏa thuận, tiền lãi của khoản vay này từ ngày 16/10/2023 đến ngày 19/02/2024 là 123 ngày = 4.305.000 đồng, anh H4 đã trả tiền lãi cho H đến ngày 16/01/2024 là 3.150.000 đồng, còn 1.155.000 đồng là tiền lãi từ ngày 17/01/2024 đến ngày 19/02/2024 anh H4 chưa trả cho H.

Như vậy, số tiền lãi theo thỏa thuận mà anh H4 phải trả cho H đối với khoản vay nêu trên là 4.305.000 đồng, trong đó tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm pháp luật dân sự cho phép là 478.716 đồng, còn 3.826.284 đồng là khoản tiền lãi vượt mức 20%/năm.

6. Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1993, trú tại xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Ngày 27/10/2023, anh Nguyễn Tuấn A đến nhà gặp H hỏi vay số tiền 5.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân. H đồng ý và thống nhất tính lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tức lãi suất là 0,5%/ngày = 15%/tháng = 180%/năm). Cùng ngày, H sử dụng tài khoản ngân hàng số 0969390555 chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng đến số tài khoản 0966141123 của anh Tuấn A mở tại Ngân hàng Q. Đến ngày 27/11/2023, anh Tuấn A tiếp tục vay thêm 5.000.000 đồng, H vẫn tính lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày như khoản vay trước và chuyển khoản đến số tài khoản 0521000725216 của anh Tuấn A mở tại ngân hàng V.Theo thỏa thuận, anh Tuấn A phải trả tiền lãi cho H của 02 khoản vay cụ thể như sau:

5

Khoản vay 5.000.000 đồng từ ngày 27/10/2023 đến ngày 19/02/2024 là 112 ngày = 2.800.000 đồng. anh Tuấn A đã trả tiền lãi cho H đến ngày 27/12/2023 là 1.500.000 đồng, còn 1.300.000 đồng là tiền lãi từ ngày 28/12/2024 đến ngày 19/02/2024 anh Tuấn A chưa trả cho H.

Khoản vay 5.000.000 đồng từ ngày 27/11/2023 đến ngày 19/02/2024 là 82 ngày = 2.050.000 đồng. anh Tuấn A đã trả tiền lãi cho H đến ngày 27/12/2023 là 750.000 đồng, còn 1.300.000 đồng là tiền lãi từ ngày 28/12/2024 đến ngày 19/02/2024 anh Tuấn A chưa trả cho H.

Như vậy, tổng số tiền lãi theo thỏa thuận mà anh Tuấn A phải trả cho H đối với cả 02 khoản vay nêu trên là 4.850.000 đồng, trong đó tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm pháp luật dân sự cho phép là 539.320 đồng, còn 4.310.680 đồng là khoản tiền lãi vượt mức 20%/năm.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Trung H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của H phù hợp với lời khai của những người liên quan về thời gian, địa điểm, số tiền cho vay, số tiền lãi, hình thức giao dịch, phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Mức lãi suất mà Nguyễn Trung H cho các anh Ngô Thành L, Nguyễn Đức H3, Trần Xuân Đ, Trần Vũ D, Lê Văn H4và Nguyễn Tuấn A vay tiền là từ 108%/năm đến 180%/năm, đã vượt quá 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự:

Tại Điều 468 Bộ luật dân sự quy định về Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác ...

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

Tổng số tiền gốc mà H cho các anh L, H3, Đ, D, H4 và Tuấn A vay là 77.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi mà H thỏa thuận thu của 06 người này đến ngày bị cơ quan công an phát hiện và ngăn chặn là 54.444.470 đồng, trong đó tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm là 8.490.676 đồng, còn 45.953.794 đồng là khoản tiền lãi vượt mức 20%/năm.

Động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo là vì vụ lợi.

Cáo trạng số 30/CT-VKSTXPT ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, quy định tại Khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và trình bày:

6

Trong khoảng thời gian từ ngày 16/3/2023 đến ngày 19/02/2024, tại nhà của Nguyễn Trung H ở khu B, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; H đã cho các anh Ngô Thành L, Nguyễn Đức H3, Trần Xuân Đ, Trần Vũ D, Lê Văn H4 và Nguyễn Tuấn A vay tiền với lãi suất từ 108%/năm đến 180%/năm. Tổng số tiền gốc mà H cho các anh L, H3, Đ, D, H4 và Tuấn A vay là 77.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi mà H thỏa thuận thu của 06 người này đến ngày bị cơ quan công an phát hiện và ngăn chặn là 54.444.470 đồng, trong đó tiền lãi với mức lãi suất 20%/năm là 8.490.676 đồng, còn 45.953.794 đồng là khoản tiền lãi những người vay phải trả vượt mức 20%/năm. Thực tế những người vay đã trả cho H số tiền lãi là 46.700.000 đồng.

Ngày 15/4/2024 bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Trong đó có: 20.000.000 đồng tiền gốc bị cáo cho vay đã được trả lại để nộp vào ngân sách nhà nước; tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự bị cáo đã thu là 8.490.676 đồng để nộp ngân sách nhà nước. Còn lại số tiền 11.509.324 để trả lại cho những người vay như sau: Trả lại cho anh Ngô Thành L số tiền 4.500.000 đồng; trả lại cho anh Nguyễn Đức H3 số tiền 1.600.000 đồng; trả lại cho anh Trần Xuân Đ số tiền 2.000.000 đồng; trả lại cho anh Trần Vũ D số tiền 900.000 đồng; trả lại cho anh Lê Văn H4 số tiền 798.644 đồng; trả lại cho anh Nguyễn Tuấn A số tiền 1.710.680 đồng.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Trung H.

Về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Trung H để sung vào ngân sách nhà nước số tiền bị cáo dùng để cho vay mà người vay đã trả là 20.000.000 đồng;

Truy thu của những người vay bị cáo Nguyễn Trung H để sung vào ngân sách nhà nước số tiền gốc chưa trả như sau: Ngô Thành L 10.000.000 đồng; Nguyễn Đức H3 5.000.000 đồng; Trần Xuân Đ20.000.000 đồng; Trần Vũ D5.000.000 đồng; Lê Văn H4 7.000.000 đồng; Nguyễn Tuấn A 10.000.000 đồng; Tổng số 57.000.000 đồng.

Tịch thu để sung vào ngân sách nhà nước tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo Nguyễn Trung H đã thu của người vay tổng số là: 8.490.676 đồng.

7

Bị cáo Nguyễn Trung H phải trả lại cho người vay số tiền thu lợi bất chính mà thực tế đã thu cụ thể như sau: Trả lại cho anh Ngô Thành L số tiền 17.107.880 đồng; trả lại cho anh Nguyễn Đức H3 số tiền 5.890.980 đồng; trả lại cho anh Trần Xuân Đ số tiền 7.615.160 đồng; trả lại cho anh Trần Vũ D số tiền 3.213.340 đồng; trả lại cho anh Lê Văn H4 số tiền 2.671.284 đồng; trả lại cho anh Nguyễn Tuấn A số tiền 1.710.680 đồng. Tổng số tiền bị cáo phải trả lại cho người vay là 38.209.324 đồng.

Xác nhận ngày 15/4/2024 bị cáo Nguyễn Trung H tự nguyện giao nộp số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Bao gồm: 20.000.000 đồng tiền gốc Nguyễn Trung H cho vay đã được trả lại để nộp vào ngân sách nhà nước; tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự bị cáo đã thu là 8.490.676 đồng để nộp ngân sách nhà nước. Còn lại số tiền 11.509.324 được trả lại cho những người vay theo ý kiến của bị cáo trình bày nêu trên tại phiên toà. Nguyễn Trung H chỉ còn phải trả lại cho những người vay như sau: Trả cho anh Ngô Thành L số tiền 12.607.880 đồng; trả cho anh Nguyễn Đức H3 số tiền 4.290.980 đồng; trả cho anh Trần Xuân Đ số tiền 5.615.160 đồng; trả lại cho anh Trần Vũ D số tiền 2.313.340 đồng; trả cho anh Lê Văn H4 số tiền 1.872.640 đồng. Tổng số tiền bị cáo còn phải trả lại cho những người vay là 26.700.000 đồng.

Bị cáo thừa nhận tội danh, khung hình phạt và không có tranh luận gì khác. Lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình nêu trên là vi phạm pháp luật hình sự và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở xác định:

Trong khoảng thời gian từ ngày 16/3/2023 đến ngày 19/02/2024, tại nhà của Nguyễn Trung H ở khu B, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; H đã cho các anh Ngô Thành L, Nguyễn Đức H3, Trần Xuân Đ, Trần Vũ D, Lê Văn H4 và Nguyễn Tuấn A vay tiền với lãi suất từ 108%/năm đến 180%/năm. Theo quy định của Bộ luật dân sự, mức lãi suất không được vượt quá 20%/năm. Như vậy, lãi suất H cho các anh L, H3, Đ, D, H4 và Tuấn A vay tiền đã vượt quá 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật

8

dân sự. Tổng số tiền lãi H thỏa thuận thu tính đến ngày bị Cơ quan Công an phát hiện và ngăn chặn là 54.444.470 đồng, trong đó số tiền lãi vượt quá 20%/năm mà người vay phải trả cho H là 45.953.794 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo ý thức được hành vi Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế về lĩnh vực tài chính, xâm phạm đến quyền lợi của công dân. Vì vậy có cơ sở và căn cứ pháp lý kết luận bị cáo phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Xét về nhân thân bị cáo không có tiền án, không có tiền sự và có nhân thân như đã nêu trên. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, xử lý bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; mẹ đẻ của bị cáo được tặng Huy chương Chiến sỹ vẻ vang các năm 2011, 2014 và tặng Huy chương Quân kỳ quyết thắng năm 2020 là người có công với cách mạng. Vì vậy bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về điều kiện kinh tế: Bị cáo cùng vợ con đang ở nhờ nhà bố mẹ đẻ, trong nhà chỉ có một số đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, ngoài ra bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nào khác.

Với các tình tiết nêu trên áp dụng hình phạt tiền và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:

Tịch thu để sung vào ngân sách nhà nước đối với khoản tiền bị cáo dùng để cho vay tổng số là 77.000.000 đồng trong đó:

Tịch thu của bị cáo để sung vào ngân sách nhà nước số tiền bị cáo cho Ngô Thành L vay mà L đã trả là 15.000.000 đồng; Số tiền bị cáo cho Trần Vũ D vay mà D đã trả là 5.000.000 đồng; Tổng là 20.000.000 đồng;

Truy thu của những người vay bị cáo Nguyễn Trung H để sung vào ngân sách nhà nước số tiền gốc chưa trả như sau: Ngô Thành L 10.000.000 đồng; Nguyễn Đức H3

9

5.000.000 đồng; Trần Xuân Đ20.000.000 đồng; Trần Vũ D5.000.000 đồng; Lê Văn H4 7.000.000 đồng; Nguyễn Tuấn A 10.000.000 đồng; Tổng số 57.000.000 đồng.

Tịch thu để sung vào ngân sách nhà nước tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của người vay tổng số là: 8.490.676 đồng.

Bị cáo Nguyễn Trung H phải trả lại cho người vay tiền thu lợi bất chính mà bị cáo thực tế đã thu (Số tiền lãi thực tế đã thu trừ đi số tiền lãi pháp luật dân sự cho phép) cụ thể:

Trả lại cho anh L số tiền 21.150.000 đồng - 4.042.120 đồng = 17.107.880 đồng.

Trả lại cho anh H3 số tiền 6.750.000 đồng - 859.020 đồng = 5.890.980 đồng.

Trả lại cho anh Đ số tiền 9.500.000 đồng - 1.884.840 đồng = 7.615.160 đồng.

Trả lại cho anh D số tiền 3.900.000 đồng - 686.660 đồng = 3.213.340 đồng.

Trả lại cho anh H4 số tiền 3.150.000 đồng - 478.716 đồng = 2.671.284 đồng.

Trả lại cho anh Tuấn A số tiền 2.250.000 đồng - 539.320 đồng = 1.710.680 đồng.

Tổng số tiền phải trả lại cho người vay là 38.209.324 đồng. Quá trình điều tra, bị cáo tự nguyện giao nộp 40.000.000 đồng bao gồm một phần tiền gốc và tiền lãi đã thu của những người vay để khắc phục hậu quả được xác nhận. Bị cáo chỉ còn phải nộp số tiền là 26.700.000 đồng để trả lại cho những người vay.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 201, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 35, khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 60.000.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Trung H.

2. Về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng:

10

Tịch thu của bị cáo Nguyễn Trung H để sung vào ngân sách nhà nước số tiền bị cáo dùng để cho vay mà người vay đã trả là 20.000.000 đồng;

Truy thu của những người vay bị cáo Nguyễn Trung H để sung vào ngân sách nhà nước số tiền gốc chưa trả như sau: Ngô Thành L 10.000.000 đồng; Nguyễn Đức H3 5.000.000 đồng; Trần Xuân Đ20.000.000 đồng; Trần Vũ D5.000.000 đồng; Lê Văn H4 7.000.000 đồng; Nguyễn Tuấn A 10.000.000 đồng; Tổng số 57.000.000 đồng.

Tịch thu để sung vào ngân sách nhà nước tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự mà bị cáo Nguyễn Trung H đã thu của người vay tổng số là: 8.490.676 đồng.

Bị cáo Nguyễn Trung H phải trả lại cho người vay tiền thu lợi bất chính mà bị cáo thực tế đã thu cụ thể như sau: Trả lại cho anh Ngô Thành L số tiền 17.107.880 đồng; trả lại cho anh Nguyễn Đức H3 số tiền 5.890.980 đồng; trả lại cho anh Trần Xuân Đ số tiền 7.615.160 đồng; trả lại cho anh Trần Vũ D số tiền 3.213.340 đồng; trả lại cho anh Lê Văn H4 số tiền 2.671.284 đồng; trả lại cho anh Nguyễn Tuấn A số tiền 1.710.680 đồng. Tổng số tiền bị cáo phải trả lại cho người vay là 38.209.324 đồng.

Xác nhận ngày 15/4/2024 bị cáo Nguyễn Trung H tự nguyện giao nộp số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Bao gồm: 20.000.000 đồng tiền gốc Nguyễn Trung H cho vay đã được trả lại để nộp vào ngân sách nhà nước; tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự bị cáo đã thu là 8.490.676 đồng để nộp ngân sách nhà nước. Còn lại số tiền 11.509.324 được trả lại cho những người vay: Trả lại cho anh Ngô Thành L số tiền 4.500.000 đồng; trả lại cho anh Nguyễn Đức H3 số tiền 1.600.000 đồng; trả lại cho anh Trần Xuân Đ số tiền 2.000.000 đồng; trả lại cho anh Trần Vũ D số tiền 900.000 đồng; trả lại cho anh Lê Văn H4 số tiền 798.644 đồng; trả lại cho anh Nguyễn Tuấn A số tiền 1.710.680 đồng.

(Vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ ngày 07/5/2024).

Nguyễn Trung H chỉ còn phải trả lại cho những người vay như sau: Trả cho anh Ngô Thành L số tiền 12.607.880 đồng; trả cho anh Nguyễn Đức H3 số tiền 4.290.980 đồng; trả cho anh Trần Xuân Đ số tiền 5.615.160 đồng; trả lại cho anh Trần Vũ D số tiền 2.313.340 đồng; trả cho anh Lê Văn H4 số tiền 1.872.640 đồng. Tổng số tiền còn phải trả lại cho những người vay là 26.700.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

11

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; đương sự;
  • - VKSND thị xã Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thị xã Phú Thọ;
  • - Cơ quan thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ;
  • - UBND xã Hà Lộc, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở tư pháp tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng, kế toán.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Chi

12

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đình Chi

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung Hiếu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger